BÃ TRÀ



Bàn tay mạnh bạo đó kéo chân tôi xềnh xệch xuống dưới mép cầu. Lực kéo mạnh tới mức không hiểu một ông già hơn 40 tuổi như tôi có thể trụ được đến bao giờ khi không có bùa chú.

Đúng lúc tôi cảm giác như mình sẽ rơi thẳng xuống màn nước đen ngòm sâu hun hút thì một cánh tay nắm lấy cổ áo tôi giằng lại. Người tôi run lẩy bẩy, cố ngước mắt nhìn lên. Người đó cố gắng dùng mọi sức lực đế kéo tôi ngược lên. Thế nhưng lực kéo của con ma không hề dễ dàng để kháng cự.

"Lấy...lấy lá bùa màu đỏ kia..giúp tôi..nhanh với..."

Người đó cũng sững lại 1s rồi cố gắng với lấy đám bùa ở đằng xa. Thế nhưng chúng vẫn còn xa tầm với.

Thế rồi một cơn gió thổi mạnh lên phía bên kìa cầu, làm một số lá bùa tung lên trong gió.

Người đó, khéo léo vươn tay ra để bắt gọn lấy 1 lá bùa. Thật may hơn nữa, đó là lá bùa đỏ.

Bàn tay rắn rỏi đó đưa tấm bùa cho tôi như đưa miếng bánh cho người sắp chết đói là tôi.

Tôi vội vớ lấy lá bùa kẹp chặt lại, dùng khí thổi lửa. Luồng lửa phun ra sáng lòa, bàn tay ghê tởm kia buông tôi ra, rụt lại. Tôi bật ngã ra đằng sau, đè lên chân người vừa cứu tôi.

Tôi lồm cồm bò dậy, ho sặc sụa vì bị túm cổ áo lôi lên. Người kia cũng đứng dậy, phủi tay, phủi chân.

Tôi quay lại để nói lời cảm ơn.

"Cảm ơn nhé...Ơ".

Tôi nhận ra người đó và chợt cảm thấy xấu hổ,

"Ơ! Ông nhà báo à!"

Đó chính là cô gái tôi vừa gặp chiều qua. Tôi vừa được cứu mạng bởi một cô gái kém hơn tôi chục tuổi. Cô gái đứng yên lặng trong đêm, màu tóc cháy cùng với ánh mắt nâu sâu thẳm. Ánh mắt ấy nhìn tôi dò hỏi, có chút khó hiểu. Ánh mắt đinh ninh ấy làm tôi nhớ tới một người. Một luồng cảm xúc dấy lên trong lòng tôi.

"Giờ này chú ra đây làm gì thế? Còn biết mấy món bùa cơ à?" Cô gái gặng hỏi.

"Đã bảo gọi là anh thôi..mà tôi không phải nhà báo!" Tôi bối rối đưa mắt ra chỗ khác.

"Thế anh là gì? Anh về đây làm gì?"

"Tôi là thầy pháp...được chưa..Tôi về giải quyết một vụ chết đuối ở trong đảo này..."

"Thật á?"

"Chẳng nhẽ lớn rồi tôi còn đi đùa cô...Thế đêm rồi cô ra đây làm gì?"

Cô gái im lặng và nhìn về phía cây cầu trân trân, không đáp.

Lặng im lát lâu, cô gái mới khẽ nói: "Biết đâu, tôi gặp được Thu..."

"Thu? Thu có phải cô gái hôm qua...."

Cô gái tên Hiệp chỉ thở dài. Người đâu mà tên con trai, tính tình cũng như con trai nữa.

"Nếu tôi không phải nhà báo, thì liệu cô có thể thoải mái mà giãi bày cho tôi nghe sự tình đằng sau vụ tự tử kia không...? Tôi thật sự cần biết để có thể giải quyết...Chẳng nhẽ cô bé Thu gì đó cũng đi qua đây và bị kéo xuống như tôi?"

Vào giây phút tôi gần như bị kéo tuột xuống sông, tôi đã nhìn thấy điều mà tôi cần kiểm chứng. Vào thời còn trẻ, vì quá tham vọng mà tôi đã cố gắng mở luân xa 6, thậm chí là 7 ra. Tôi phải trả giá nhiều cho hành động đó, và nhờ luân xa 6 có hé mở nên việc nhìn thấy người âm đối với tôi là bình thường, không cần phải khai nhãn gì cả...Lúc nãy lúc sắp rơi xuống nước, tôi chỉ kịp nhìn thấy ánh mắt dữ dằn đó cùng chiếc miệng cười toác đang đón chờ tôi trong bóng tối của cây cầu.

Tôi vừa lúi húi nhặt đống bùa rơi vãi trên cầu, vừa ngó quanh quất. Hiệp cũng cẩn thận nhặt vài tờ giúp tôi. Tôi im lặng đợi Hiệp trả lời.

Hiệp khẽ đáp: "Trải nghiệm của Thu..chắc chỉ có cô ấy mới hiểu được. Nếu như chỉ cần cẩn thận khi đi qua cầu, nếu như chỉ cần đơn giản như thế...Tôi..tôi đã...". Hiệp nắm chặt tay ra chiều bất lực lắm.

Nhặt xong bùa, chúng tôi nhanh chóng quay vào trong đảo, vừa đi vừa nói chuyện.

"Cô có nhìn thấy chúng không?" tôi hỏi.

"Nhìn thấy gì cơ?"

"Những bóng hồn oan khuất dưới cây cầu này..."

"Tôi không nhìn thấy gì cả...Nãy tôi chỉ thấy anh như đang sắp ngã xuống sông, mà không sao kéo lên được..."

"Vậy sao cô còn mong gặp lại vong hồn của Thu?"

Hiệp mỉm cười coi bộ đau khổ lắm.

"Lảng bảng lờ mờ bóng ai

Còn chưa hiểu rõ tai ương bất ngờ

Hồn lưu độc chiếc đứng chờ

Trên cầu vong phách có về được đâu?...

Đó chính là câu ca dao truyền lại của hòn đảo này đấy...Người ta thường kháo nhau rằng, người chết đuối trên con sông này, hay tự vẫn ở trên cây cầu này, vẫn lưu lại ở nơi đây...Chỉ cần nửa đêm ra đây đứng chờ, người cần gặp sẽ đứng ở bên kia cầu nhìn lại. Và có thể, chúng tôi sẽ được nói chuyện với nhau...."

Câu nói vừa rồi của Hiệp cũng làm tôi bất giác rùng mình.

"Vậy là..cuối cùng tại sao cô Thu đó lại tự vẫn vậy? Có giống như thân chủ của tôi không?"

"Thân chủ của anh là ai?" Hiệp hỏi.

""Anh Lăng gì đó..người dân trên hòn đảo này này, chắc cô biết chứ?"

"À..tôi biết anh Lăng...Người hiền lành chân chất lắm, cũng khổ...Anh ý liên lụy, bị dính nguyền ấy mà..."

"Nguyền gì?"

"Câu chuyện bất thành văn lưu truyền ở hòn đảo này rồi...Nhưng nếu tôi nói ra...sợ tai ương sẽ đến...Rồi anh cũng sẽ biết thôi..."

"Vậy còn cô Thu? Cô không nói được gì hơn à?"

"Chuyện của Thu là một câu chuyện dài. Tôi không biết mình có quyền được nói ra không, dù Thu là bạn thân nhất của tôi. Nếu anh muốn tìm hiểu, mai anh hãy qua nhà bác Bắc, mẹ cái Thu rồi hỏi. Dù sao người cũng đã đi rồi, tôi không muốn bới lên chuyện quá khứ..."

Tôi im lặng. Ở hòn đảo này, có vẻ như mọi người khó để nói lên sự thật, điều mà họ đang sợ hãi trong lòng.

"Thôi chào anh, tôi về đây! Đêm không ngủ được, tôi lẩm cẩm mất rồi!". Hiệp quay lại nhìn tôi rồi nở một nụ cười.

Tôi nhìn bóng dáng cô gái đi xa dần, trong lòng cảm xúc ngổn ngang.

Sáng hôm sau tôi dậy sớm để chuẩn bị lễ cầu siêu và gọi hồn người mất. Cả gia đình ông Lãng cũng giúp tôi chuẩn bị. Tất bật cả sáng mới đủ đồ, gần trưa chúng tôi sẽ lập đàn bên bờ sông. Dòng sông cuồn cuộn chảy thẳng ra biển cũng đủ khiến tâm hồn tôi lao đao choáng ngợp. Thế nhưng khi vào việc, tôi luôn rất nghiêm túc.

Gần tới giờ đẹp, đàn lễ cũng dựng xong, chút ánh dương ban sáng hé mở sau màn mây tự dưng lại lẩn khuất sau bầu trời, làm tôi dự cảm chẳng lành.

Buổi lễ bắt đầu. Tôi đọc kinh, khấn vái, xin phép thần Phật, Hà Bá con sông này rủ lòng thương xót, hoa tàn trôi nổi, đưa lối cho về.

Khấn vái xong, tôi hướng dẫn người nhà thả chim, thả cá xuống sông rồi chuẩn bị gọi hồn.

Tôi nắm đĩa xin quẻ. Xin ba lần quẻ đều không tốt. Lòng tôi lo lắng. Không biết các Ngài có nhận được lễ không, lễ có tới được tay vong hồn anh Lăng không.

Gia đình anh Lăng ngồi quây tròn trên tấm bạt xanh trải bên bờ sông. Tôi cầm cành liễu xin được, vẫn còn ngát lộc. vẩy nước thánh quanh vòng người rồi bắt đầu chiêu hồn.

Tôi cố gắng mở cửa âm để mời hồn về, tay cầm sẵn 1 chiếc chuông nhỏ treo. Hồn về chuông sẽ rung lên và tôi sẽ nhìn thấy luồng khí trong chốc lát.

Thế nhưng qua vài đợt khấn, vài lần chờ đợi, vẫn không có gì biến chuyển, chiếc chuông im ắng như ngày lặng gió, dù ngoài sông gió vẫn rít ầm ầm. Chuông chỉ kêu to khi có luồn âm khí mạnh.

Gọi hồn thất bại. Vậy tức là vong hồn vẫn bị kẹt ở đâu đó không được phép về nhà. Tôi chợt nhớ tới bài thơ cô gái đọc đêm qua, lòng thấy bất an.

Tôi đành cáo lỗi với gia quyến. Điều quan trọng là phải tìm được xác người mất về, gia đình giờ cũng chỉ đề cao chuyện đó.

Cách đây rất lâu, tôi đã được truyền thụ một loại bùa cổ Trung Hoa có thể miêu tả những thứ cần tìm thông qua một hình thức lý giải phức tạp. Đầu tiên cần 1 loại chè được hái khi vừa trổ, cho vào hũ chôn xuống đất đủ 100 ngày. Lấy lên và sắc bằng ấm sứ trắng nung mộc. Nước ngâm phải là nguồn nước kề cận nhất với vật mình cần tìm kiếm trước khi mất. Sau khi làm xong, bã trà tự nhiên sẽ cho ta câu trả lời. Cách lí giải rất khó nhưng chỉ cần lần đúng mạch, gần như chắc chắn sẽ tìm được. Vừa hay tôi có mang một chút lá chè khô này, dù sao cũng phải thử.

Tôi thắp một tuần hương và khéo léo làm bùa. Tôi nhờ mọi người đi quanh làng, tìm kiếm những ấm sứ trắng cổ, không có hoa văn càng tốt để bắt đầu. Dù rằng không ưng ý 100%, họ vẫn mang về cho tôi được 1 ấm sứ. Tôi nhờ người lấy 1 gáo nước sông, nơi mà anh Lăng gieo mình xuống để sắc ấm. Mỗi lần chỉ lấy 1 ít bã, nhiều nước. Sắc đủ 1 tuần hương, nước sôi li ti cạn gần hết mới bắc ra. Người bình giải phải uống gần cạn, lắc cốc, đổ hết đi sau đó sẽ thấy bã trà.

Tôi làm theo các bước đã được truyền dạy thật cẩn mật. Sau khi uống gần cạn, tôi xoay cốc 3 vòng rồi úp ngược xuống chiếc đĩa trắng nhỏ, nước chảy hết, tôi lật ngược cốc lại rồi tôi khum tay che lấy bã trà rồi từ từ hạ chiếc cốc xuống.

Bã trà trong cốc chia làm 3 mảng. Hai mảng cách nhau một khoảng trong khi mảng nhỏ màu sắc đậm hơn tạo nên 1 kẽ hở. Một vài vụn lá tạo thành hình ảnh của những hòn đá to nhỏ khác nhau nằm xung quanh đó. Có tượng hình của 1 ngôi nhà và khuôn mặt của một người đàn ông nằm ở hướng đó. Vậy là tôi đã có câu trả lời. Có lẽ xác người đã trôi vào trong một lạch nước nào đó và kẹt ở đấy, nơi gần 1 ngôi nhà nhỏ. Điều cần thiết giờ là kiếm thuyền xuôi sông tìm kiếm, đến đúng địa điểm như trên bã trà đã miêu tả.

Tôi đã tìm hiểu ở trên đảo, có một người đàn ông chuyên chở thuyền buôn bán, nhận cả việc vớt xác, cứu người tự vẫn. Thế nhưng ông vẫn thường xuyên đánh hàng vào trong thành phố, men theo con sông này để kiếm kế sinh nhai nên không phải lúc nào cũng ở đây. Ngày xưa gần đây cũng có chợ nổi, thương lái đánh hàng qua lại đây vô cùng nhộn nhịp. Thế nhưng khi khách du lịch vãn bớt, con đường đánh hàng của ông lão đó ngày càng 1 xa xôi...

Ông lão tên Mười, đích thân ông Lãng đã đứng chờ ông Mười ở bến sông cả ngày hôm đó để nhờ ông Mười cùng giúp đỡ tìm kiếm người mất theo sự chỉ dẫn của tôi. Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, ông Mười cũng nhận lời, phần vì ông bận, phần vì sợ không tìm được lại áy náy...

Vậy là tôi mất thêm 1 ngày 1 đêm nữa, cố gỡ cục rối như tơ vò này từng chút một. Đoạn sông từ đây ra biển cũng tầm 2km chứ không phải quá ngắn, lại có nhiều lạch nước nhỏ. Chúng tôi cần phải kiên nhẫn hơn. Nghĩ đến cảnh lênh đênh trên thuyền, bốn bề là nước, tôi lại cảm thấy lợn cợn, sợ hãi. Thế nhưng tôi đã nhận vụ này, tôi phải cố gắng hết sức mình.

Thế là đêm đó, tôi tụng kinh trước khi ngủ để chuẩn bị tinh thần tốt nhất cho chuyến đi ngày mai.

Tảng mờ sáng ngày hôm sau, chúng tôi đã có mặt ở bến thuyền, thực chất chỉ là 1 cái cọc gỗ neo thuyền mà thôi. Thuyền của ông Mười khá lớn, đủ để chở gần chục người. Ngoài tôi và một vài người thân trong gia đình ông Lãng, trên thuyền còn vài thanh niên trai tráng rắn rỏi. Tôi cảm thấy quen quen ngờ ngợ, hình như tôi từng gặp họ ở đâu đó rồi.

"Đây là đội thanh niên của đảo, giúp đỡ tôi rất nhiều. Tôi bận có chúng nó lo, nên mọi người cứ an tâm tin tưởng nhé."

Thế rồi chúng tôi đi, con thuyền bắt đầu xuôi theo dòng nước. Tôi ngồi im lìm giữa thuyền, cố gắng giữ bản thân bình tĩnh và tin tưởng. Chúng tôi sẽ tìm đúng địa điểm mà lá trà báo hôm qua.
Thế nhưng, tôi đâu ngờ phía dưới làn nước kia toàn là những điều khủng khiếp...
[Đọc Truyện Này...]


GIÁP MỘC



Tôi bắt xe taxi tới bến xe vào 7h sáng. Trời âm u và rả rích mưa xuân. Chỉ vài tuần nữa thôi là vào tiết trời nồm, ra Tết âm lịch là hết mùa đông. Xuất hành gặp mưa đối với tôi đã là một sự khó chịu và kém may mắn rồi. Tôi mang theo chiếc dù cứng màu đen mua bên Nhật. Dù Nhật sản xuất dày dặn, chắc chắn, tôi dùng mấy năm rồi vẫn còn bền như mới. Tôi chỉ dùng dù đen, dẫu trông u ám và tang tóc nhưng khi đứng núp dưới chiếc dù ấy, tôi sẽ không phải nhìn thấy từng giọt nước mưa rơi lách tách xuống chiếc ô.

Tôi dò dẫm từng bước vào trong bến xe, kéo theo chiếc vali nghe lọc xọc, tìm chuyến xe mình đã đặt. Tôi cố gắng nhìn thẳng về phía trước, tránh những vũng nước đang loang lổ dần trên nền đất ẩm ướt. Đi tới tận gần cuối bến mới tìm thấy chiếc xe giường nằm có biển số xe tôi đặt.

Bước lên xe, tôi rũ mạnh chiếc ô ướt lướt thướt vào gầm cầu thang rồi bước lên, cảm giác khô thoáng hơn đôi chút. Nhìn quanh chiếc xe này, một cảm giác u ám bỗng dưng xâm chiếm lấy tôi. Cả chiếc xe xộc lên thứ mùi tanh tanh lạnh lạnh, không gian im ắng. Có vài người đã lên xe trước tôi rồi thế nhưng họ chỉ nằm ngủ im lìm hoặc nghe nhạc. Theo kinh nghiệm của tôi, chuyến xe nào quá im ắng và buồn tẻ thì chuyến đi đó dễ không êm thấm. Tôi thở hắt ra rồi buông mình xuống giường nằm, ra sao thì ra, dẫu sao cũng là công việc bắt buộc phải đi, tôi không thể khó tính quá mà kén chọn được.

Tôi nằm đợi gần 1 tiếng để đến giờ xe chạy, đủ người mới đi.

Gần 1 tiếng sau đó, một người phụ nữ ngoài 30 tuổi bế theo đứa con lên xe, gần như là hành khách cuối cùng. Nhìn hai mẹ con đủ thứ hành lý lích kích mà thấy thương. Người phụ xe mau mắn đuổi hai mẹ con xuống dưới đuôi xe nằm. Họ đi lướt qua giường tôi nằm bên phải xe rồi đi xuống cuối xe. Chiếc xe đã gần kín hết giường, phụ xe đếm qua đếm lại rồi chạy xuống gọi tài xế để chuẩn bị khởi hành. Tôi vắt tay ra sau đầu rồi gối lên, chờ đợi một chuyến đi dài đầy mỏi mệt.

Người tài xế lùn lùn, đầu hơi hói bước lên trên xe, ngồi vào sau tay lái. Người phụ xe đảo mắt lần cuối rồi gật đầu nháy ông tài xế đóng cửa xe lại.

Bỗng nhiên từ phía cuối xe, không gian đang im ắng lạ thường bỗng ré lên tiếng trẻ con kêu khóc.

"Oa...oa..." Tiếng em bé khóc ngằn ngặt không dứt khiến mọi người quay lại nhìn. Tôi cũng thế. Hóa ra, đứa bé con khi nãy được mẹ bế lên xe đang gào khóc. Dịp này tôi mới có thể quan sát kĩ hai mẹ con người đó. Người mẹ ăn mặc xuề xòa, đứa bé cũng hơi nhếch nhác, thò lò mũi xanh, chiếc áo cáu bẩn.

Người mẹ cố gắng vỗ lưng nịnh nọt dỗ dành đứa con nhưng nó mãi vẫn không chịu nín, cứ khóc ngằn ngặt.

Người phụ xe gọi vống xuống: "Gì thế chị ơi? Cháu làm sao thế? Ầm ĩ quá! Ảnh hưởng mọi người."

"Vâng..vâng.." Người mẹ bối rối đầy ái ngại. Một người phụ nữ nằm giường gần đấy cũng ngoái xuống hỏi.

"Cháu đòi gì hả em? Hay bế con xuống cho nó nín khóc tí rồi lên! Chắc lên xe bức bí nó khó chịu ấy mà...Có khác gì thằng con nhà chị đâu."

'Có thể cháu đang ốm...mệt..nên thế bác ạ..." Người mẹ đáp. "Chứ bình thường nó ngoan lắm mà..."

Nói xong người phụ nữ vội vàng bế xốc đứa bé lên rồi xin phép phụ xe đợi cho 5 phút để dỗ bé nín.

"Đúng 5 phút thôi đấy nhá! Không thể để mọi người chờ 1 người được. Trẻ con phiền phức...đã bảo không muốn nhận trẻ con rồi..." Người phụ xe lầm bầm trong miệng.

Tôi chứng kiến sự việc cũng chỉ biết tặc lưỡi thở dài.

Hơn 5 phút sau, người phụ nữ bế đứa con lên, tay vẫn còn giữ chiếc mũ rộng vành che mưa che cho đứa bé. Có vẻ thằng bé đã nín, khuôn mặt còn hơi đỏ hồng, mũi dãi lại thòng lòng.

Người mẹ vừa bế đứa bé lên xe bước được vài bước thì đứa trẻ lại cất tiếng khóc chói tai.

"Ơ cái chị này..." Người phụ xe gắt gỏng. Bà mẹ lại cau mày hết sức khổ tâm, cố gắng dỗ dành con.

Tôi linh cảm có thứ gì đó không ổn. Hôm nay tôi còn chưa bấm ngày và giờ xuất hành cũng như về chuyến xe này sẽ diễn ra như thế nào.

"Hay là xuống xe đi đừng đi nữa...Tôi hoàn tiền! Xuống xuống đi!" Người phụ xe cáu gắt tính túm hai mẹ con đưa xuống dưới.

"Ơ...chú thông cảm...chắc nó ốm..Giờ ở lại mẹ con cháu không còn tiền trang trải nữa..."

"Ầm ĩ thế ai mà chịu được?"

Tôi đứng phắt dậy.

"Từ từ anh phụ...Để tôi xem thế nào...Không phải tự nhiên cứ lên xe là nó khóc đâu..."

"Ông là ai? Bác sĩ à?"

"Không...Tôi có chút kiến thức về mấy chuyện này. Cho phép tôi nhé..."

Tôi lấy hai tay ôm lấy đầu của thằng bé, nắm nhẹ 2 tai của nó, hướng đôi mắt nhòe nhoẹt nước của nó vào mặt mình. Tôi nhìn thật sâu vào ánh mắt nó và nhắm mắt lại. Những xung cảm bắt đầu truyền về phía tôi với những ánh sáng đỏ rực rỡ và chàm le lói.

Tôi mở mắt ra rồi nói với 2 người lớn đứng trước mặt: "Thằng bé này có luân xa số 1 mở rõ bẩm sinh và có xu hướng mở dần luân xa số 6...Nó sẽ rất nhạy cảm với những môi trường nguy hiểm. Khóc là cách nó phản ứng với cảm giác bất an trong lòng...Dù sao để luân xa mở không hẳn là tốt...Để tôi giúp thằng bé đóng lại...Nó cảm nhận được chuyến xe này có gì đó không ổn."

"Ông đang nói luyên thuyên cái gì thế? Luân xa là cái gì?" Người phụ xe nói với giọng giễu nhại.

Lúc này tôi mới quan sát thật kĩ được khuôn mặt của anh ta. Dưới hai lông mày có bóng rũ xuống, đôi mắt thâm quầng. Nhìn anh ta tôi đoán được tâm trạng đang có điều phiền não hoặc đang giấu diếm điều gì.

"Đợi chút..." Tôi nói.

Tôi đi thẳng lên phía đầu xe nơi ông tài xế đang ngồi. Càng lên gần phía đầu xe tôi càng cảm thấy sống lưng lạnh toát, gai ốc cứ thế nổi lên từng đợt. Âm khí tỏa mạnh ra từ phía đầu xe, đặc biệt là từ chỗ ông tài xế đang ngồi.

Tôi lặng lẽ đứng đằng sau người tài xế trong tiếng khóc không dứt của đứa trẻ.

Tôi nhìn qua thân hình ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế lái và chợt thấy một bóng đen đang ngồi gần dưới chân ông ta. Một vong hồn.

Vong hồn đó là vong của một đứa trẻ vị thành niên tầm 15,16 tuổi, người gầy gò và đầy máu me, tay chân vẹo vọ hết sức ghê tởm. Nó đang ôm chặt lấy chân phải của ông tài xế ở bên dưới gầm có chân ga và chân phanh. Chỉ cần nó điều khiển 1 chút, 1 tai nạn nghiêm trọng có thể sẽ xảy ra.

Tôi ngồi thụp xuống, đối diện nó.

"Sao lại đeo bám ông này?"

"Nó...giết tôi..." Hồn ma nữ trợn ngược mắt lên nhìn ông tài xế đầy thù hằn.

"Nó và tên kia...cố tình đâm cho tôi chết...để khỏi phải đền tiền...Tôi sẽ giết chúng!!!". Hồn ma chỉ vào tên phụ xe đang hạnh họe mấy người đi xe ở phía dưới, giọng rít lên.

Ông tài xế nhìn thấy tôi thì giật mình: "Ông làm cái gì thế hả? Về chỗ đi xe còn chạy!"

Tôi mới bình thản đứng dậy ghé vào tai ông ta thì thầm: " Mới gần đây, ông gây ra vụ chết người nào à?"

Người đàn ông chột dạ, mặt tái lại. Xung quanh khuôn mặt ông ta, tà khí ám đầy, thần sắc mệt mỏi.

"Tôi..tôi không...sao...sao..."

"Giờ ông bị người ta theo oán rồi...Đi tiếp chuyến này chỉ có đường chết..."

"...Xin hãy nói bé thôi...Ông là ai?"

"Một tên thích lo chuyện bao đồng thôi...Tôi cũng có việc gấp lắm, không thể hủy chuyến được. Ân oán này, tôi sẽ tạm khất cho ông, còn sau này như thế nào...tự ông hối cải mà giải nghiệp nhé..."

Ông ta run lên, rít qua kẽ răng: "Giúp tôi với..."

Tôi lại ngồi thụp xuống, đối diện với hồn ma kia: "Cô bé, đừng làm thế này. Cháu định giết hết những người vô tội ngồi đằng sau tay lái này à?"

"Nhưng hai tên độc ác này phải trả giá cho những gì chúng làm!!!! Cháu sẽ không tha cho chúng đâu..."

"Oán niệm có gì là tốt đâu...Cháu giết những người vô tội ngồi đây, xuống dưới kia, tội của cháu sẽ nặng hơn chúng gấp nghìn lần, bị đày đọa hàng nghìn năm trong chảo dầu, mãi không được siêu sinh, cháu muốn thế sao?"

Ánh mắt của hồn ma dịu đi đôi chút nhưng cánh tay nó vẫn ôm ghì lấy chân người đàn ông run rẩy lên từng cơn.

Tôi rút ra một lá bùa trấn vong trong túi, giơ đến trước mặt nó. Nó co rúm lại khiếp sợ.

"Đừng để chú phải ép!" Tôi nói.

Hồn ma buông tay ra rồi tan biến như 1 làn khói.

"Được rồi..." Tôi đứng dậy. "Cho tôi 15 phút làm lễ chút.

"Phụ xe! Lấy hộ tôi cái ô sau giường tôi với!" Tôi nói.

"Ông tự đi mà lấy..." Tên phụ xe đang hất hàm với tôi thì giọng người lái xe vang lên: "Lấy cho chú ấy đi, Hoàng!"

Nói xong anh ta mới bực bội rút chiếc ô đen ra rồi đưa cho tôi. Lúc này đứa bé có vẻ đã dịu đi tiếng khóc.

Vừa bước xuống xe, giương ô ra, tôi rút ra chiếc la bàn nhỏ dắt bên hông để tìm hướng đông.

Tôi quay mặt về hướng Đông, chắp tay ấn chú chữ Mộc rồi nhắm mắt niệm 10 lần Giáp mộc.

Xong xuôi, tôi bước ra phía đầu xe, lấy một lá bùa to cầu bình an hanh thông, dán chắc vào đầu xe rồi làm lễ, tụng chú suốt 10 phút và đốt bó hương thảo lên vẫy ở đầu xe.

Sau đó, tôi giũ ô, phủi gấu quần rồi bình thản bước lên xe. Mọi người hiếu kì nhìn tôi chằm chằm. Có người còn hỏi: "Sao thế hả thầy?"

"Không có gì đâu...Cầu đi lại thuận lợi ấy mà..." Tôi đáp. Người tài xế và phụ xe nhìn tôi bằng ánh mắt lấm lét. Tôi đi xuống cuối xe, chỗ hai mẹ con đứa bé đang nằm. Thằng bé đã thiu thiu ngủ, có vẻ yên bình hơn lúc trước.

Tôi nhẹ nhàng nói với mẹ cháu bé: "Thằng bé này nếu bẩm sinh đã như thế, việc nó phải chịu đựng cũng như gánh những trách nhiệm về tâm linh trong tương lai sẽ là điều khó tránh...Nếu như em không muốn cháu bé này lớn lên phải như vậy thì tốt nhất hãy đóng luân xa của nó lại...Em cứ suy nghĩ đi nhé..."

Người mẹ nhìn tôi khó xử rồi cũng đáp: "Vâng...cảm ơn thầy...Cháu nó nãy quấy quả vì nó đang bệnh trong người thôi...cảm ơn thầy quan tâm ạ."

Tôi gật đầu rồi về chỗ nằm xuống. Xe bắt đầu chạy. Tôi nằm lơ mơ mà nghĩ miên man. Nghĩ ra tôi cũng dại thật. Chuyến xe còn dài, mà tôi lại còn chơi bài ngửa với một lũ giết người thế này...chẳng biết tôi có còn toàn mạng mà đến Khánh Hòa không.

Chuyến xe cứ lắc lư đưa tôi tới gần tới miền đất đáng sợ kia trong khi khổ chủ còn đang thiêm thiếp ngủ, không lường trước được điều gì...
[Đọc Truyện Này...]


DỐC CẦU KIỆU



Đã một năm trôi qua kể từ ngày gia đình Thanh dọn về ở khu "xóm vắng" vùng Đakao này. Gọi là "xóm vắng" vì ở cái xóm tân lập này chỉ đếm được hơn mười nóc gia và có khoảng hai mươi lăm nhân khẩu.

Vào những năm cuối thập niên bốn mươi và đầu thập niên năm mươi của thế kỷ hai mươi thì dân số thành phố Saigon-Gia Định chỉ vỏn vẹn khoảng trên dưới hai trăm năm chục ngàn người.

Gia đình Thanh chạy loạn chiến tranh giữa Việt Minh và quân đội Pháp từ miền Trung vào. Thật may mắn là ba của Thanh có người bạn đang là công chức ở Sở Bưu điện thành phố và, cũng đang ngụ không lâu ở cái "xóm vắng" này nên gia đình Thanh kiếm được một miếng đất nhỏ ở đây và dựng tạm một căn nhà bằng vật liệu nhẹ để phòng khi mưa nắng.

Thanh là con trai một nên ba má Thanh đã dành tất cả những gì có được đều cho một mình Thanh. Thanh đã hai mươi tuổi rồi và tuy rất thông minh nhưng việc học thì thường bị gián đoạn luôn vì chiến cuộc.

Nhìn cảnh gia đình luôn thiếu trước hụt sau, Thanh cũng muốn tìm một việc làm để phụ giúp cho kinh tế gia đình khá hơn và để mẹ Thanh không phải vất vả mỗi sáng với gánh xôi nặng trĩu trên vai đi dạo khắp phố phường.

Ba Thanh thì không muốn con trai mình phải lận đận và không có tương lai nên ông thường khuyên con phải cố gắng học hành cho thành đạt. Ông thường nói: "Học đến nơi đến chốn trước là ấm cho bản thân, sau là vợ con con được nhờ chứ lúc đó ba mẹ còn đâu để mà nhờ". Tuy nghe lời dạy của ba mẹ, nhưng Thanh cũng nhờ vài người bạn cùng trường tìm cho một công việc dạy kèm trẻ tại nhà.

Một ngày kia,Thanh được bạn bè giới thiệu một công việc như ý muốn là dạy kèm cho bốn em nhỏ. Ngày đầu tiên đi nói chuyện để nhận việc, Thanh không dấu nổi vẻ thất vọng khi được cho biết công việc dạy học được bắt đầu vào lúc 19h và chấm dứt lúc 22h30. Thất vọng là vì nơi mà Thanh mỗi tối phải đến ở tận ngã tư Phú Nhuận, cách nhà Thanh khoảng năm cây số hơn. Vùng đó hơi xa nhà mà lại quá vắng vẻ vì còn nhiều đồng ruộng.

Thời gian mà Thanh phải đi và về vào thời điểm đó thì không làm sao có phương tiện để di chuyển được. Thấy Thanh lo lắng, ba Thanh hỏi chuyện và khi biết nguyện vọng của con thì ông nói:

- Mỗi tối ba sẽ đưa con đi và đón con về bằng xe mobilette của ba. Ba cũng cần ra ngoài một chút vào buổi tối cho khỏe người. Khi nào gia đình mình khá một chút thì sẽ sắm cho con chiếc xe đạp.

Nghe ông nói vậy Thanh cũng ậm ừ cho qua chuyện vì Thanh biết là cả ngày ông làm trong Sở Bưu điện, tối về ông cũng muốn có những giây phút bên mẹ Thanh cho bà vui vì mẹ Thanh là một tiểu thư đài các khi quen ba Thanh. Cũng vì chiến tranh nên gia đình phải tạm thời gặp khó khăn.

Ngày đầu tiên nhận việc, Thanh rất vui vì bốn em mà Thanh dạy kèm đều rất ngoan. Bốn em này ở cùng một xóm và học cùng một trường công lập Võ Tánh trên đường Võ Di Nguỵ Các em rất yếu về môn toán và Việt văn. Một ngày nọ, ba của Thanh đến đón anh trễ. Thanh thả bộ ngang qua ngã tư Phú Nhuận thì Thanh để ý thấy có một xe thổ mộ, là loại xe ngựa chở khách rất thịnh hành vào thời điểm này và thường đậu ở ngã tư để đón khách.

Thấy Thanh, người xà ích vội ngồi thẳng dậy và mời:

- Cậu đi xe cậu ơi.

Thanh cám ơn người xà ích và nhân tiện cũng hỏi cho biết giá cả từ đây về nhà Thanh, và Thanh hứa sẽ đi vào một dịp khác.

Ba của Thanh đã đồng ý với đề nghị của Thanh là từ thứ hai đầu tuần tới, ông chỉ phải đưa Thanh bận đi mà thôi. Khi về thì Thanh sẽ về bằng xe thổ mộ. Thanh cho biết là tiền xe chỉ mất khoảng năm cắc (0,50 xu). Mỗi tháng Thanh dạy kèm từ thứ hai đến thứ sáu là năm ngày, như vậy mỗi tháng mất khoảng mười đồng tiền xẹ Tiền công kèm bốn em, mỗi em một tháng là mười lăm đồng, vị chi Thanh vẫn còn dư đến năm mươi đồng. Thấy con tính như vậy nên ba Thanh cũng tạm yên lòng. Sau một tháng dạy kèm cho bốn em. Lần đầu tiên trong đời, Thanh cầm trong tay số tiền lương mà Thanh kiếm được. Thanh đã yêu cầu mẹ từ nay không phải thức khuya dậy sớm với gánh xôi cực nhọc nữa. Thanh sẽ dựng cho mẹ một sạp báo ở đầu xóm "cho mẹ vui vì có công việc làm".

Kể từ tháng thứ hai, các em vì mến Thanh nên sau giờ học các em muốn Thanh ngồi lại để "kể đủ thứ chuyện gì mà thầy Thanh biết".

Từ đó, mỗi đêm Thanh ngồi nán lại với các em thêm một giờ.

Từ nơi dạy học, Thanh ra đến chỗ xe thổ mộ là mười một giờ bốn mươi phút đêm.

Người xà ích không lộ một vẻ gì nôn nóng và thái độ thì cũng vẫn bình thản như mọi hôm.

Đường sá vào những năm đó rất vắng vẻ. Hằng đêm, Thanh từ nơi dạy kèm đi ra đến xe thổ mộ, luôn luôn cũng chỉ có một mình Thanh chứ tuyệt nhiên không có một bóng người hay chiếc xe nào khác chạy trên đường. Nhà cửa ở khu ngã tư Phú Nhuận cũng rất ít oi và nhiều đồng ruộng. Nhà ở hai bên con đường Võ Di Nguy từ ngã tư Phú Nhuận lên đến Đakao thì im lìm then cài cửa đóng.

Cũng có đôi lúc Thanh rùng mình nghĩ vu vơ về những chuyện ma quái nhưng Thanh vội gạt đi những ý nghĩ đó. Thanh thường nhìn lén người xà ích, Thanh thấy ông ta thật bình thản nên cũng có phần yên tâm hơn và bớt suy nghĩ những điều không hay. Gọi người xà ích là ông chứ Thanh nghĩ tuổi của ông ta chỉ ngoài ba mươi.

Đêm nay cũng giống như mọi đêm. Thanh ngồi quay lưng lại với người xà ích để hai chân được thòng xuống cái bàn đạp dùng để cho khách bước lên xe. Nhìn cảnh vật hai bên đường đêm nay Thanh thấy sao nó tối tăm quá, mặc dầu nó cũng như mọi đêm qua.

Đèn không đủ soi sáng lắm ở hai bên đường... nhất là khoảng từ chợ Phú Nhuận lên đến cầu Kiệu. Thanh nghĩ quẩn là nếu chẳng may có một bọn cướp nào đó xông ra chận chiếc xe thổ mộ và bắt Thanh dẫn đi vào con hẻm nào đó thì cũng chẳng có ai dám đuổi theo. Cảnh sát cũng chưa chắc đã dám đuổi theo nói chi đến người dân thường.

Đang miên man suy nghĩ thì đột nhiên chiếc xe thổ mộ từ từ chạy chậm lại vì có người đứng đón xe.

Thanh quay đầu lại nhìn thì cũng vừa lúc người xà ích lên tiếng:

- Cô đi xe, cô ơi.

- Qua khỏi cầu Kiệu là bao nhiêu tiền hả chú?

- Dạ,mười xu cô ạ.

Thanh ngồi tránh qua một bên để người khách bước lên. Khách là một cô gái. Cô gái mặc áo dài nên cô ta cũng ngồi giống như Thanh đang ngồi để hai chân không phải bị gò cong lại như khi ngồi trong lòng xe.

Thanh là một thanh niên mới lớn và rất rụt rè trong giao thiệp, nhất là với phái nữ. Tuy đang là ban đêm và trời lạnh, nhưng Thanh cảm thấy mặt nóng bừng khi Thanh liếc mắt nhìn trộm người con gái và phát giác ra nàng rất đẹp.

Mùi thơm của da thịt nàng tỏa ra đã làm cho Thanh ngây ngất thêm và làm cho Thanh thêm rụt rè hơn. Người con gái thì từ khi lên xe chỉ cúi mặt xuống như tìm kiếm vật gì đó dưới lòng đường và, ôm sát chồng sách vào lòng như sợ nó bị ai đó giựt đi.

Thoảng chốc, người con gái mới ngước mặt lên một chút và rồi lại nhìn xuống mặt đường. Nàng tỏ ra e thẹn khi thỉnh thoảng đụng phải người Thanh vì chiếc xe thổ mộ bị gập ghềnh bởi mặt đường không được bằng phẳng lắm.

Xe vừa chạy lên giữa cầu thì người con gái quay lại nói với người xà ích:

- Ngừng ở ngay dốc đầu cầu bên kia nghe chú.

Sau khi trả tiền xong, người con gái xuống xe và thoăn thoắt bước xuống những bực thềm để đi vào xóm nhà gần đó mà Thanh nhìn theo thì không thấy một nhà nào có ánh đèn.

Hôm sau, cũng đúng tại địa điểm cũ, người con gái cũng ra đón xe và người xà ích cũng nói lời mời khách như ông đã từng mời Thanh và cô gái mà Thanh đã được nghe.

Hôm sau nữa là nhằm ngày thứ sáu, cuối tuần, người con gái đó cũng ra đón xe như hai hôm trước nên Thanh không biết người con gái đó ngày hôm sau và ngày sau nữa có ra đón xe không.

Thanh mong sao cho mau qua hết tuần để gặp lại người con gái đó. Cả ngày Thanh cứ thắc mắc về người con gái. Nàng làm gì và từ đâu ra đón xe vào cái giờ mà trên đường không một bóng người qua lại.

A, có lẽ người con gái đó cũng đi dạy kèm trẻ như Thanh chăng. Thanh để ý là nàng cũng ôm một chồng sách giống như Thanh vậy. Nàng không thể là... Thanh vội xua đuổi ý nghĩ kinh dị trong đầu và Thanh an tâm là nàng không phải là ma hiện ra để chọc ghẹo chàng.

Tối hôm thứ hai đầu tuần, bà chủ nhà mà Thanh đến dạy kèm cho biết là Thanh được về sớm hơn một giờ vì lũ trẻ mà Thanh dạy kèm được bà đưa đi đến nhà của người bạn bà chơi.

Thanh thả bộ ra ngã tư Phú Nhuận. Người xà ích và chiếc xe thổ mộ chưa đến. Thời gian còn lâu mới đến giờ Thanh ra về nên Thanh thả bộ dọc theo con đường Võ Duy Nguy để nhìn ngắm các cửa tiệm.

Bên cạnh trường công lập Võ Tánh là tòa nhà của Hội Đồng Xã Phú Nhuận. Xa hơn chút nữa về bên trái là rạp hát xi nê Văn Cầm. Một rạp hát nhỏ mà phía sau rạp có một số nhà tranh và còn nhiều đồng ruộng. Phía trước rạp bên kia đường là một cái đình mà Thanh không biết tên. Phía trước cái đình có một cái phông tên nước mà giờ này thì không có ai đến lấy nước nữa. Đi thêm một quãng đường nữa là đến ngôi chợ Phú Nhuận. Giờ này thì dĩ nhiên là chợ cũng không còn nhóm họp buôn bán gì.

Từ ngôi chợ hướng dài đến chân cầu Kiệu là một dãy nhà lá, nhà tôn lẫn lộn và không có căn nào có tầng lầu. Phía sau những căn nhà đó cũng là những thửa ruộng còn lênh láng nước. Bất chợt Thanh nhìn về phía xa xa nơi ba ngày qua có người con gái cũng hằng đêm cùng Thanh trên chiếc xe thổ mộ. Nơi đó hiện có vài căn nhà có đốt đèn. Thanh đoán người con gái có lẽ giờ này đang ngồi một trong những căn nhà đó.

Thanh nhìn đồng hồ và vội bước nhanh về khu ngã tư Phú Nhuận. Đến nơi Thanh thấy chiếc xe thổ mộ đã đậu sẵn tự bao giờ. Người xà ích có lẽ quá mệt cho một ngày lao động nên đã nằm ngả lưng ra sàn xe. Thanh không muốn làm mất giấc ngủ mệt nhọc của người xà ích, nhưng Thanh phải giả bộ tằng hắng để người xà ích biết là Thanh đã đến vì Thanh cảm thấy lo nếu để người con gái đứng chờ xe trong một quãng đường quá vắng vẻ.

Đêm nay, với bao sự mong đợi được gặp lại người con gái cùng đi trên chiếc xe với Thanh trong mấy đêm qua thì, chiếc xe thổ mộ vẫn bình thản chạy qua nơi có người con gái đứng đón xe hằng đêm.

Thanh cảm thấy một nỗi buồn man mác xâm chiếm vào tâm hồn chàng. Thanh nhìn liếc người xà ích, ông vẫn bình thản cầm cương như không để ý gì đến việc vắng bóng một người khách đêm nay.

Đã một tuần lễ trôi qua. Ba mẹ Thanh không thể không lo lắng khi thấy con trai mình có vẻ bồn chồn lo lắng một điều gì.

Các em nhỏ mà Thanh dạy kèm cũng "không thấy thích thú những câu chuyện mà thầy Thanh kể nữa". Những câu chuyện không đầu không đuôi và thường kết thúc bằng một câu:

- Ngày mai thầy kể tiếp.

Tối hôm nay khi Thanh vừa ra đến chiếc xe thổ mộ thì trời cũng vừa bắt đầu lâm râm mưa. Một cơn mưa nhẹ đầu mùa. Thanh bước uể oải lên xe và chàng ngồi co chân trong lòng xẹ Thanh không muốn đôi giầy mà chàng đang mang bị ướt.

- Cô đi xe, cô ơi!

Thanh như bị điện giựt, chàng ngồi thẳng dậy và ngoái cổ lại nhìn vì chàng biết chắc người xà ích mời người khách mà Thanh đang mong đợi. Người con gái bước lên xe. Nàng hơi lúng túng vì không biết phải ngồi làm sao thì Thanh đã lẹ làng ngồi tránh ra phía ngoài.

Khi người xà ích chuẩn bị cho xe chạy thì cô gái lên tiếng:

- Cả tuần nay bị cảm mà bây giờ lại gặp mưa nữa...thật là xui xẻo quá!

Thanh quay lại nhìn người con gái vì Thanh không biết là nàng nói chuyện với Thanh hay với người xà ích. Người con gái đang hướng mặt về phía trước và, hình như nàng nói câu đó mà không chủ đích nói với ai. Thấy đây là cơ hội mà Thanh đã ấp ủ trong lòng cả tuần qua, và đã... hứa với lòng là Thanh sẽ mạnh dạn để được làm quen với người mà Thanh rất mong nhớ.

Hít một hơi cho đầy lồng phổi, Thanh nói:

- Cô nên có một cái áo mưa.

Nói xong câu đó, Thanh thấy mình quả là không có duyên ăn nói. Chính Thanh cũng không ngờ là có một cơn mưa bất chợt như đêm nay để đem theo áo mưa thì làm sao cô gái biết trước được để mang theo cái áo mưa. Nhưng cô gái đã nở một nụ cười với Thanh và nói:

- Em... cũng không ngờ là hôm nay lại mưa.

Thanh nhìn cô gái mà trong lòng thật xao xuyến. Nàng có một nụ cười quá xinh đẹp, với một hàm răng thật trắng và thật đều đặn.

Thanh muốn nói thêm một câu gì đó mà Thanh không làm sao mở miệng được. Hai tay Thanh thì cứ hết chắp vào nhau lại xoa xoa như là đang bị lạnh lắm.

Sự im lặng thật dài. Chỉ có tiếng vó ngựa là gõ đều đều trên mặt đường.

Phút chốc mà chiếc xe thổ mộ đã lên đỉnh cầu và đang đổ dốc. Người xà ích đang ghìm cương để chiếc xe từ từ dừng lại. Tự nhiên Thanh buột miệng:

- Cô hãy đi mau về nhà để kẻo ướt. Tôi xin được trả tiền xe đêm nay cho cô.

Một lần nữa, cô gái nhìn Thanh nở một nụ cười thật tươi và lí nhí câu cám ơn rồi bước lẹ xuống những bực thềm dẫn vào khu nhà phía xa.

Có lẽ người xà ích đã nghe câu nói của Thanh với cô gái nên khi cô ta vừa xuống xe là người xà ích vẫy vẫy cái dây cương để cho con ngựa biết là nó phải tiếp tục cuộc hành trình.

Ba mẹ Thanh đang ngồi chờ đón Thanh. Hai ông bà ngạc nhiên thấy Thanh bước vào nhà và vừa đi vừa huýt sáo một bài hát vui nhộn. Ba mẹ Thanh nhìn nhau và trên gương mặt của hai người cũng thật rạng rỡ như cũng đang có những niềm vui với nhau.

- Thưa cô, tôi xin phép được...

Thanh vừa đi lại trong phòng ngủ, vừa làm điệu bộ nghiêng mình về phía trước và vừa nói. Nhưng Thanh nghĩ làm như vậy không được vì khi xe thổ mộ ngừng là cô gái bước lên xe ngay trong khi Thanh vẫn đang còn ngồi trên xe thì không thể nghiêng mình được. Chẳng lẽ vừa ngồi vừa nghiêng mình.

Dù sao thì cô gái cũng đã có để ý đến mình nên cô gái đã đồng ý cho mình trả tiền cuốc xe.

Nghĩ vậy nên Thanh yên tâm và...hứa với lòng là sẽ mạnh dạn hơn trong lần gặp đêm mai.

- Có lẽ...cô cũng dạy kèm trẻ ở gần chỗ cô đứng đón xe ?

- Đúng vậy. Sao...anh biết?

- Tôi đoán vậy thôi vì...anh cũng dạy kèm cho bốn đứa trẻ ở khu ngã tư Phú Nhuận.

Im lặng một lúc, Thanh nói về công việc của anh và hỏi cô gái:

- Anh dạy môn toán và Việt văn. Nhà... em ở...dưới đó hả?

- Dạ, xuống hết các bực thềm rồi quẹo phải và đi theo mé sông đến căn nhà cuối cùng là nhà em đó. Em sống với ba vì mẹ em mất lâu rồi. Ban ngày em đi may tới chiều mới về. Ăn cơm xong là đi đến gần chỗ mà em thường đứng đón xe để dạy kèm cho hai em bé gái học môn sử ký. Em tên là Thơm. A, tới nơi rồi. Thôi em về nhe. Hẹn anh đêm mai. Cám ơn anh đã trả tiền xe cho em. Hôm nay xin cho em được tự trả nghe.

- Không đáng bao nhiêu mà. Em cứ tự nhiên đi về nhà đi, lát nữa anh trả luôn tiền xe cho. Tên anh là Thanh.

- Cám ơn anh Thanh nhiều lắm.

Thanh thật sung sướng trong lòng biết bao. Lầu đầu tiên được làm quen với một người con gái, mà lại là người con gái đẹp nữa; và lại là người có học nữa. Như vậy là cô gái đã thật sự có cảm tình với mình nhiều lắm rồi.

Thanh lại mong một ngày mau trôi qua.

- Anh Thanh đối tốt với em nhiều lắm. Em...

Người con gái ngập ngừng như có điều gì khó nói lắm. Thanh liền tiếp lời:

- Em...muốn nói gì với anh thì cứ nói, đừng ngại.

- Em muốn mời anh vào nhà em uống ly trà cho biết nhà. Nhưng em thật sự ngại quá vì nhà em quá nghèo. Em.... sợ anh không được vui.

- Được em mời đến nhà là quý lắm rồi. Gia đình anh cũng đâu phải thuộc loại giàu có sang trọng gì mà dám chê bai ai.

- Vậy anh thử hỏi xem "ông xe ngựa" có chịu chờ để đón anh về không.

Tuy làm như chỉ chú tâm vào việc điều khiển cho con ngựa chạy đúng hướng đúng đường. Nhưng khi nghe cô gái nói đến "ông xe ngựa" là ông lên tiếng ngay:

- Cô chú cứ tự nhiên. Tôi chờ bao lâu cũng được mà. Nhà tôi cũng ở gần đây thôi.

Qua dốc cầu và khi xe ngừng lại hẳn, Thanh mau mắn bước xuống trước. Thanh muốn đưa tay đỡ người con gái mà không dám.

Thanh lẽo đẽo theo sau người con gái như một cái bóng. Vì đường đi quá tối nên cô gái đã vấp vào một vật gì đó nằm trên đường và ngã chúi về phía trước. Thanh mau mắn ôm ngang lưng người con gái để đỡ cho nàng khỏi té.

Thân thể người con gái chạm vào tay Thanh và chuyền qua Thanh một cảm giác thật lạnh. Thanh thật ái ngại cho người con gái. Tại sao nàng lại không mang hờ theo một cái áo ấm vào ban đêm. Thanh nhớ lại mấy đêm qua, người con gái thường hay ngồi co ro và ôm sát chồng sách vào lòng như để hơi ấm không thoát ra ngoài được. Thanh nghĩ và thấy thương người con gái nhiều hơn. Anh quyết tâm sẽ tặng người con gái cái áo ấm vào đêm mai.

Đi hết một dãy nhà khoảng bảy hay tám căn gì đó thì Thanh và người con gái đến trước một căn nhà ở cuối dãy nhà mà Thanh vừa đi qua. Căn nhà khá nhỏ nhoi được bao bọc xung quanh bằng ván cây mỏng và nóc nhà lợp bằng lá.

Người con gái dùng tay đẩy nhẹ cánh cửa và bước vào nhà. Trước mặt Thanh là một cái bàn nhỏ và có một cái đèn dầu cũng nhỏ xíu để bên trên. Kế bên cái đèn là một ấm đựng trà và bốn cái tách được đựng trong một cái dĩa bằng nhôm.

Sau cái bàn đó là một cái giường được che bởi một tấm màn trắng rất sạch sẽ đã được kéo qua để chẹ Phía bên trái là nhà bếp. Cạnh cái bếp có mắc một cái võng và có một người đàn ông đang nằm trên đó mà Thanh đoán là ba của cô gái. Người con gái lên tiếng khi người đàn ông bỏ chân xuống khỏi cái võng như dự định đứng lên.

- Đây là anh Thanh, người đã trả tiền xe cho con mà con đã kể với ba.

Thanh không thấy được rõ mặt người đàn ông vì ánh đèn dầu không đủ soi sáng khắp căn nhà. Thanh gật đầu và lí nhí trong miệng câu chào.

- Anh ngồi xuống đó đi. Em pha trà anh uống cho ấm. Em bị lạnh quá. Em sợ bị bịnh lắm.

- Ừ,người em lạnh lắm. Em đi làm đêm mà ăn mặc như vậy dễ bị bịnh lắm đó.

- Em cũng định tới đầu tháng này em sẽ mua một cái áo lạnh thật dầy, chứ mỗi đêm cứ như vầy thì sợ sẽ không kéo dài được lâu.

Thanh nhớ lại là người con gái chỉ mới ra đón xe trong vài tuần nay thôi, chứ lúc Thanh mới nhận việc dạy kèm thì đâu có thấy người con gái này ra đón xe. Nàng nói tới đầu tháng sẽ mua áo, như vậy là nàng chờ đầu tháng có lương rồi mới mua áo.

Thanh thấy thương người con gái này quá. Nàng chân thật quá. Nàng ăn nói thật tự nhiên và rất thân tình với Thanh.

- Anh uống nước đi.. cho ấm.

Vì mãi suy nghĩ nên Thanh không để ý người con gái đã rót ly nước cho Thanh tự lúc nào.

Thanh bưng ly nước lên và uống cạn.

Người của Thanh lúc này tự dưng nóng lên. Cái đầu thì bần thần như có đeo chì. Mắt thì nhìn cảnh vật xung quanh như mờ mờ ảo ảo.

Người con gái nhìn Thanh và nói với vẻ đầy lo lắng:

- Anh Thanh có sao không? Hình như anh bị cảm rồi. Hay anh lại nằm tạm trên cái giường này để em cạo gió cho.

Nói rồi người con gái bước tới dìu Thanh lại cái giường và cởi áo của Thanh ra để cạo gió.

Tỉnh dậy, Thanh thấy ba mẹ anh đang ngồi bên giường anh trong bệnh viện Tân Định.

Ba mẹ Thanh cho biết là những người ở xóm dốc cầu Kiệu phát giác anh bị bất tỉnh nằm trong một nghĩa địa nhỏ gần đó và cảnh sát đã đưa anh vào đây.

Thanh không biết là anh mơ hay tỉnh. Chuyện vừa qua là có thật hay chỉ là mợ Tại sao anh lại nằm bất tỉnh trong một nghĩa địa nào đó. Như vậy người con gái mà Thanh gặp gỡ là...ma ?

Thật không thể tin được! Theo các truyện ma quái mà Thanh đã đọc thì...con ngựa của người xà ích sẽ có phản ứng nếu người con gái đó là ma.

Thanh từ từ nhớ lại những chuyện đã xảy ra đêm hôm qua với anh. Thanh quyết định xin xuất viện sáng nay để cùng với ba Thanh đến xóm dốc cầu Kiệu tìm căn nhà của người con gái.

Khi Thanh và ba của Thanh đến trước căn nhà cuối cùng bên con sông ở dốc cầu Kiệu thì Thanh nhận biết đây không phải là căn nhà mà Thanh đã đến đêm qua.

Đang dáo dác tìm căn nhà mà Thanh muốn tìm thì một người đàn ông trong căn nhà cuối cùng trong xóm mà Thanh và ba Thanh đang đứng bước ra hỏi:

- ông và cậu muốn tìm ai?

- Tôi muốn tìm căn nhà của cô Thơm làm nghề may ở trong khu này.

- A, cậu là người hồi sáng đã bị bất tỉnh và nằm trong cái nghĩa địa đằng kia đó phải không? Cô Thơm thì tôi không biết. Vả lại ở đây cũng không có ai làm nghề thợ may cả. Nhưng ở chỗ cái nghĩa địa nhỏ mà cậu bị bất tỉnh đó, thì vào khoảng vài năm trước có một căn nhà của hai cha con. Người cha làm nghề chạy xe thổ mộ mướn. Người con gái thì làm nghề may, nhưng tôi không biết tên là gì vì tôi chỉ mới dọn về đây thôi. Tôi nghe những người xung quanh kể lại là có một ngày kia có một bọn lính Nhật vào đây. Chúng đã thay nhau hiếp cô thợ may. Vừa lúc người cha đi làm về, ông thấy vậy nên đã lấy cây rựa bửa củi ra chém tụi lính Nhật. Tụi lính đó đã bắn người cha chết liền tại chỗ. Cũng vì muốn phi tang nên tụi lính Nhật đã bắn cô gái chết luôn rồi đốt nhà. Căn nhà đang cháy dở dang thì một cơn mưa đổ xuống và dập tắt đám cháy. Người dân ở đây tìm thấy xác chết của hai cha con bị tụi lính Nhật giết nhưng chưa bị cháy hết nên đã được chôn ngay tại chỗ căn nhà đó. Sau này mấy người trong xóm qua đời, người nhà đem chôn cạnh ngay hai cái mả của hai cha con người xà ích và riết rồi thành cái nghĩa địa nhỏ.

Tháng 12 năm 1974.

Thanh hiện là một sĩ quan cao cấp còn sống độc thân của Q.L.V.N.C.H.và là Giáo sư giảng dạy tại trường Võ Bị và trường Chiến Tranh Chính Trị tại Đà Lạt.

Một đêm kia, Thanh ngồi trong một căn phòng thật kín đáo để nghiên cứu một vấn đề gì đó trong một cuốn sách mà Thanh mới nhận được hồi chiều.

Đêm nay, nơi Thanh đang ngồi bị cúp điện. Người lính cận vệ đã thắp tạm cho Thanh một cây đèn cầy để anh làm việc.

Trong một lúc Thanh ngẩng đầu lên. Bất chợt anh thấy có bóng một người phụ nữ hiện lên trên vách tường và di chuyển từ cuối phòng đến chỗ anh đang ngồi thì biến mất.

Thanh nhìn lại phía sau xem ai đang đi đến. Anh rùng mình khi thấy tất cả cửa phòng đều đã được đóng kỹ. Bên ngoài thì tối đen vì vẫn chưa có điện và cây đèn cầy thì đang để trước mặt anh.

Thanh bình tĩnh ngồi xuống và nhìn về phía vừa xuất hiện cái bóng của một người con gái để tìm câu giải thích cho cái hiện tượng vừa xảy ra.

Câu giải thích mãi mãi vẫn nằm trong lòng Thanh vì anh biết rằng nếu anh có kể chuyện này ra thì cũng chẳng một ai tin câu chuyện của anh.
[Đọc Truyện Này...]


TỨ ĐẠI QUỶ TRẠCH NỔI TIẾNG CỦA TRUNG QUỐC




Trung Quốc là nơi tồn tại rất nhiều "tứ đại" dưới những cách gọi rất say lòng như "tứ đại mỹ nhân", "tứ đại mỹ nam", "tứ đại danh tác", "tứ đại tài tử",... Thế nhưng, quý vị đã từng nghe đến "tứ đại hung trạch" hay còn gọi là "tứ đại quỷ trạch" tức bốn ngôi nhà ma ám chưa? Và đây cũng chính là chủ thể mà An muốn giới thiệu với các bạn trong bài viết ngày hôm nay. Tứ đại quỷ trạch này đều nằm tại Bắc Kinh, gồm: hội quán Hồ Quảng ở Hổ Phường Kiều, nhà số 33 ngõ Tiểu Thạch Hổ phố Tây Đan, nhà số 81 phố Triều Dương Môn và Lễ vương phủ phố Tây An Môn.

1. Hội quán Hồ Quảng ở Hổ Phường Kiều:

Hội quán Hội Quảng được xây vào năm Gia Khánh thứ mười hai (1807), nằm ở số 3 đường Hổ Phường thuộc khu Tây Thành, là một trong những hội quán lâu đời về hí kịch còn tồn tại ở Bắc Kinh. Nơi đây vốn là nhà riêng của rất nhiều danh nhân nổi tiếng, bên trong có Hương Hiền từ, Văn Xương các, Bảo Thiện đường, Sở Uyển đường,... Trong vườn có các loại hoa cỏ quý hiếm, hòn non bộ, đá Thái Hồ,... Trước thời Thanh là nơi các học sĩ nổi danh đến đối ẩm, đồng thời cũng là nơi dùng để chiêu đãi các cử nhân đến Hồ Nam và Hồ Bắc tiến kinh tham gia thi cử.Trải qua mấy trăm năm lịch sử, hội quán thấm đẫm mùi hương của quá khứ. Những trọng thần được người người kính trọng như Kỷ Hiểu Lam, Tăng Quốc Phiên, Lê Viên đều từng đặt chân đến đây. Trong lịch sử cận đại Trung Quốc, danh tiếng của hội quán Hồ Quảng rất lớn, vào những năm dưới thời vua Quang Tự, nơi đây từng vô cùng náo nhiệt với biết bao tài tử giai nhân và các nhân vật lớn trong xã hội thời bấy giờ.

Nghe nói, trước khi xây dựng thành hội quán thì nơi đây là một bãi tha ma được trông giữ bởi một ông già bị bệnh hủi, kể từ khi ông ấy tới đó ở thì tiếng ma khóc và ma trơi dần ít đi, mãi tới khi ông ấy qua đời. Bởi mặt mũi ông cụ quá kinh khủng nên không một ai dám đến gần, thân phận của ông cụ cũng trở thành bí ẩn. Nghe nói kể từ khi ông cụ qua đời, xung quanh hội quán Hồ Quảng có ác quỷ trùng sinh, những người bất chính và những kẻ bất hiếu khi đi ra ngoài thường bị ném đá ném gạch, thậm chí có khi còn truyền tới tiếng mắng mỏ, song mở cửa ra thì lại chẳng thấy ai... Kể từ đó, nguyên cả khu vực Hổ Phường Kiều, ngay cả thanh niên trai tráng cũng không dám ra ngoài lúc khuya.

Có một câu chuyện khác về hội quán Hồ Quảng. Tương truyền đây là nhà cũ của Trương Cư Chính đời Minh. Trương Cư Chính là một nhà cải cách lớn đời Minh, tự là Thúc Đại, hiệu là Thái Nhạc, ông là người Giang Lăng (nay là ngoại ô Hồ Bắc). Tuy nhiên sau khi qua đời, ông lại bị vu oan giá họa, tháng Năm năm Vạn Lịch thứ mười một (1583), Minh Thần Tông hạ chiếu tịch thu gia sản của ông (sau khi hủy bỏ chức vụ chỉ huy Cẩm Y Vệ của con trai ông là Giản Tu và tước đi phong hào Thượng Trụ Quốc của ông vào tháng Ba cùng năm), khiến hơn mười người nhà của ông chết đói, trưởng tử Kính Tu tự sát, chỉ có con trai thứ ba là Mậu Tu may mắn sống sót. Dưới sự cầu xin của Thượng thư Hình Bộ là Phan Quý Tuần, gia quyến của Trương Cư Chính được giữ lại một căn nhà trống và mười khoảnh ruộng để phụng dưỡng người mẹ già đã tám mươi tuổi của ông.

Nếu muốn đến đây, các bạn có thể di chuyển bằng xe buýt bằng các tuyến xe số 6, 14, 15, 25, 23, 109, sau khi xuống xe thì bạn hãy hỏi những người bản địa chung quanh, họ sẽ chỉ cho địa chỉ cụ thể. Hoặc các bạn có thể đi tuyến tàu điện ngầm số 7 và dừng tại trạm Hổ Phường Kiều. Từ tối thứ ba đến tối chủ nhật vào lúc 8 giờ tối sẽ có diễn hí, đặc biệt có suất vào chiều thứ bảy và chiều chủ nhật lúc 14h30. Giá vé ngồi ngay vị trí trung tâm đối diện sân khấu là 200 đồng (tầm 700 ngàn VNĐ), ngồi hai bên cánh trái phải là 60 đồng (tầm 210 ngàn VNĐ), các ghế lẻ tẻ khác thì dao động ở mức từ 20 đến 100 đồng (tuy nhiên đây là mức giá cách đây gần chục năm, hiện tại có khi đã tăng lên khá nhiều). Khi đến đây ngoại trừ xem hí, các bạn cũng hãy đến thăm nơi lưu giữ những tư liệu lịch sử về hí khúc nhé, họ có cả một khu trưng bày rất đẹp.

2. Nhà số 33 ngõ Tiểu Thạch Hổ thuộc phố Tây Đan:

Trong trong ngõ Tiểu Thạch Hổ có hai căn nhà nổi tiếng là căn nhà số 31 và 33, vào những năm 60 thì được gọi là nhà số 7 số 8. Theo như những gì được ghi chép lại thì vào thời Minh, nhà số 7 (tức nhà số 31) là hội quán Diên Lăng, hay còn được gọi là hội quán Thường Châu hoặc Võ Tiến, là nơi ở của rất nhiều sĩ tử Giang Nam xưa. Cuối thời Minh thì trở thành phủ đệ của Đông các Đại học sĩ kiêm Tể tướng Chu Diên. Đến đầu thời Thanh thì trở thành phủ đệ của Ngô Ứng Hùng - con trai của Ngô Tam Quế, sau khi Khang Hi diệt Ngô Tam Quế thì cũng diệt luôn cả Ngô Ứng Hùng. Đến năm Ung Chính thứ ba thì đổi thành Hữu Dực Tông học phủ.

Còn nhà số 8 (tức nhà số 33) nguyên là phủ Miên Đức, hay còn gọi là phủ Trấn Quốc Công hoặc phủ Dục Công. Đây cũng là căn nhà có quan hệ sâu rộng với tiểu thuyết gia Tào Tuyết Cần nổi tiếng đời Thanh. Sở dĩ nói căn nhà này có liên quan đến Tào Tuyết Cần là vì ông đã từng ở đây, đồng thời đây cũng là nơi ông sáng tác và hoàn thành danh tác Hồng Lâu Mộng. Ở phía Bắc trong căn nhà có một cây táo cao 15 mét, có niên đại hơn sáu trăm năm, là cây táo cổ thụ có tuổi thọ cao nhất. Theo như lời của Châu Nhữ Xương: "Trong viện có một cây táo có tuổi đời ba trăm năm, hẳn là đã từng "gặp qua" Tào Tuyết Cần". Kỷ Hiểu Lam và Tào Tuyết Cần sống cùng một thời đại, theo như lời kể của Kỷ Hiểu Lam thì căn nhà này cũng đã từng là một quỷ trạch "có tiếng", thế nhưng Tào Tuyết Cần vẫn can đảm tới ở.

Nghe nói những người ở trong ngõ Tiểu Thạch Hổ này thi thoảng sẽ nghe thấy tiếng sáo, có lúc còn nghe cả tiếng phụ nữ u oán ngâm thơ... Người đó là ai? Tương truyền có liên quan đến cái chết của Ung Chính, Ung Chính từng cướp đoạt tình nhân của Tào Tuyết Cần, chia rẽ đôi uyên ương tình đầu ý hợp. Thế nên Tào Tuyết Cần và tình nhân của ông ta mới hợp mưu chặt đầu Ung Chính, vì vậy lúc nhập liệm nhà vua, các quan đành phải dùng một chiếc đầu lâu vàng để thế vào phần đầu đã bị cắt. Một truyền mười, mười đồn trăm, chuyện dần trở nên ly kỳ, kết quả là chuyện ma về căn nhà số 33 dần trở thành đề tài trà dư tửu hậu của biết bao người. Hiện tại thì ngõ Tiểu Thạch Hổ đã không còn nữa, chỉ còn lại mỗi vị trí đại khái, giữa những căn nhà xi măng san sát nhau còn lưu lại một khu vực đổ nát. Nơi đó chính là vị trí căn nhà số 7 và số 8 tức nhà số 31 và 33.

3. Nhà số 81 phố Triều Dương Môn:

Tòa nhà này được xây dựng vào năm 1900 thế kỷ thứ 20, vốn là giáo đường do người Anh xây dựng, thuộc quyền sở hữu của tín đồ Thiên Chúa Bắc Kinh gồm 188 gian phòng diện tích 2925,7 mét vuông. Được khởi công cùng lúc với giáo đường ở Vương Phủ Tỉnh, song do thời hạn xây quá lâu lại xảy ra chiến tranh nên đã bị đình công. Nghe nói sau đó nơi đây từng là nhà của một sĩ quan thời dân quốc, khi thời dân quốc đi đến hồi tận thì vị sĩ quan đó hoảng hốt chạy trốn tới Đài Loan bỏ lại gia quyến, vợ bé của ông ta đã thắt cổ tự sát trong một căn phòng ở đó. Đây cũng là căn nhà xảy ra biết bao chuện kỳ quái. Mỗi khi trời mưa to gió lớn, trong nhà sẽ truyền ra tiếng khóc, cả tiếng thủy tinh vỡ...

Có một câu chuyện khá nổi tiếng về căn nhà này, vào một tối ngày hè năm 2001, tối đó các công nhân uống hơi nhiều nên chạy đến đây tiểu tiện. Bỗng họ cảm giác có gió thổi qua cổ và lưng, khi quay người mới phát hiện thấy trên bức tường phía Bắc căn nhà có một cái lỗ (có thể gọi là động) khá to. Họ cầm nến bước qua nhìn, một công nhân uống hơi nhiều bèn giơ chân đạp lên bức tường đó, bức tường sụp một mảng, bên trong tối đen như mực. Một công nhân khác bảorằng đó là địa đạo, lúc đập móng cũng đã nhìn thấy cái địa đạo này, sau đó đã chất gạch lên che lại. Có ba công nhân trẻ tuổi lớn mật muốn vào xem một chút, chỉ riêng vị công nhân lớn tuổi kia không vào mà bỏ về chỗ cũ. Sau khi về lều, tầm 20 phút sau, vị công nhân lớn tuổi đó vô tình nhìn thoáng qua cửa sổ lầu 2 của căn nhà đối diện đường lớn, hướng đó cũng chính là hướng căn nhà ma số 81, ông ta trông thấy cửa sổ lóe lên vài tia sáng sau đó tắt hẳn... bốn phía bỗng chốc an tĩnh... Song vị công nhân lớn tuổi ngoại trừ trong lòng có chút bất an thì cũng không nghĩ gì nhiều, bèn nằm ngủ tới sáng. Hôm sau, ba anh công nhân kia vẫn chưa quay lại chỗ làm, ngày thứ 3, thứ 4,... cũng không thấy đâu.

Nếu bạn đi ngang qua một căn nhà nào đó vào ngày hè nóng rẫy mà bỗng cảm thấy lạnh thì quả thực bạn đã đi ngang qua một nơi "không được sạch sẽ". Đã từng có người làm thí nghiệm, phát hiện nhiệt độ trong căn nhà đó thấp hơn bên ngoài đến tận mấy độ. Có một câu chuyện khác cũng rùng rợn không kém, đài truyền hình trung ương CCTV từng làm một chương trình tài liệu về căn nhà số 81 này, trong đó có chi tiết chính phủ từng tính phá dỡ căn nhà này, song trong quá trình phá dỡ, có một vài công nhân vô duyên vô cớ biến mất nên kể từ đó về sau không ai dám động vào căn nhà này nữa.

Công an quận Đông Thành cùng công an Triêu Dương Môn từng điều tra về vụ việc các công nhân mất tích năm nào, cùng với cả chuyện có người vào đó thám hiểm và mất tích năm 2007 và đưa ra kết luận: "Nếu có án nhất định sẽ được ghi lại, nhưng hiện tại xem ra tất cả chỉ là lời đồn thổi." Bởi căn nhà số 81 không ai sử dụng nên có nhiều người vô gia cư đến đó ở, ánh đèn họ đốt lên vô tình khiến mọi người nghĩ rằng đó là ma trơi. Còn chuyện có người vào đó thám hiểm, xông vào nhà người khác là hành động trái pháp luật, nếu thật sự có vấn đề thì cảnh sát sẽ tiến hành xử lý vì đã gây rối trật tự trị an. Bên cạnh đó, về vấn đề tại sao vẫn không dỡ bỏ thì đây là một căn nhà thuộc danh sách các kiến trúc xuất sắc của Bắc Kinh nên không thể phá dỡ, chỉ có thể tu sửa lại, nhưng muốn tu sửa phải bỏ ra một khoản phí rất lớn, rất nhiều nhà đầu tư cảm thấy không có lời nên cứ gác lại mãi, đến tận bây giờ vẫn chưa trùng tu.

4. Lễ vương phủ phố Tây An Môn:

Lễ vương phủ phố Tây An Môn nằm ở phía Tây Tử Cấm Thành. Vào đời Minh là tư trạch của Chu Khuê - ngoại thích của hoàng đế Sùng Trinh. Vào triều Thanh, sau khi nhập vào Bắc Kinh thì thuộc sở hữu của Lễ Thân vương - thứ tử của Thanh Thái tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích - một trong bát đại thiết mạo tử vương đầu thời Thanh, tức Hoà Thạc Lễ thân vương Ái Tân Giác La Đại Thiện. Song lúc đầu nơi đây không được gọi là phủ đệ của Lễ Thân vương, mà là vương phủ mới được xây cho cháu nội của ngài tên là Kiệt Thư. Khi Kiệt Thư được phong làm Khang Thân vương thì phủ đệ này được gọi là Khang vương phủ. Năm Càn Long thứ bốn ba (1788), Càn Long khôi phục lại phong hào Lễ vương, đổi lại tên thành Lễ vương phủ. Năm Gia Khánh thứ mười hai (1897) thì tòa phủ đệ này bị phá hủy bởi hỏa hoạn, sau đó đã được một vị Lễ thân vương thời ấy xây lại với hình hài như bây giờ chúng ta thấy.

Bắc Kinh có một câu nói như thế này: "Phòng của Lễ vương phủ, tường của Dự vương phủ", tức phòng của Lễ vương phủ rất nhiều còn tường ở Dự vương phủ rất cao. Bởi thế nên không khó để hình dung được đẳng cấp của tòa phủ đệ này. Vào thời chiến thì tòa phủ này trở thành ký túc xá của học viện Hoa Bắc, sau giải phóng thì đổi thành nơi làm việc của bộ dân chính, hiện được quản lý bởi chính phủ, đa phần các kiến trúc đều được bảo tồn, đại bộ phận kiến trúc ở khu Tây đã bị phá bỏ song tổng thể thì vẫn được bảo vệ rất tốt.

Có không ít chuyện ma quái xoay quanh Lễ vương phủ. Trong đó có một phiên bản có liên quan đến một người phụ nữ họ Thạch. Nghe nói bà từng là nô tài trong phủ Lễ thân vương, hồi bà ấy còn làm việc trong phủ thường nhìn thấy có gió lốc "cao hơn ba mét" thổi tới, lạ là mười bước quanh cơn lốc ấy lại không hề có bất kỳ chút gió nào. Lễ vương phủ tồn tại cách đây 300 năm, người phụ nữ ấy cũng là truyền nhân đời thứ năm rồi. Giờ muốn tìm kiếm hậu nhân của người phụ nữ họ Thạch từng có tổ tiên sống tại Lễ vương phủ, quả chắc khác nào mò kim đáy bể. Song những người sống quanh Lễ vương phủ lại chưa từng nghe nói có người nào họ Thạch từng sống ở đó, càng chưa từng trông thấy lốc xoáy. Tỷ lệ tin tưởng của tin đồn ma quái này quả rất thấp.

Có một phiên bản khác về cơn gió xoáy này. Nhị cách cách Lan Tâm của Lễ vương gia du học Pháp trở về, ngày nọ ngồi xe qua cầu trông thấy một thanh niên đang tấu nói được rất nhiều người vây xem, cách cách tò mò bèn xuống xe xem thử thế nào. Bởi dung mạo của Lan Tâm xinh đẹp, nàng lại mặc trang phục hoa lệ người thường hiếm thể thấy được nên ai cũng lén lút liếc nhìn. Lúc nàng đến gần gánh hát thì chàng diễn viên nọ bỗng ngừng diễn và bước tới trước mặt Lan Tâm kính cẩn nói: "Mời tiểu thư về cho, những gì chúng tôi nói không thích hợp để nàng nghe". Lan Tâm nghe vậy đành phải trở về xe, nhưng vẫn luôn có ấn tượng với chàng thiếu niên ngọc thụ lâm phong ấy. Sau khi về nhà, nàng cho người nghe ngóng thì biết được rằng tên thường gọi của chàng trai ấy là Tiểu Nộn Thông (Hành nhỏ mềm mại). Hôm sau, Lan Tâm cùng nha hoàn giả nam trang đến cây cầu đó nhưng không thấy chàng trai nọ đâu cả. Đương lúc nàng nản lòng thoái chí thì trông thấy một quán trà nhỏ ở phía trước cây cầu. Tấm biển bên trên có viết: bình kịch "Nghĩa yêu truyện", Hứa Tiên - Phùng Dược Thông. Phùng Dược Thông hóa thân thành nhân vật Hứa Tiên, giọng nói trong trẻo, tiếng hát uyển chuyển đa tình khiến Lan Tâm si mê. Xem xong, do không gọi được xe kéo nên Lan Tâm và nha hoàn đành đi bộ về nhà, khi đi ngang qua con hẻm nọ thì bị một người cản đường, hai người sợ tới mức hồn phi phách tán, song nhìn kỹ lại hóa ra người ấy chính là Phùng Dược Thông. Hóa ra Phùng Dược Thông đã nhận ra nàng từ sớm nhờ chiếc vòng trên cổ tay nàng, sợ nàng về nhà không an toàn nên sau khi tẩy trang đã đi theo hộ tống nàng hồi phủ. Dọc đường Lan Tâm vui mừng khôn xiết, song Phùng Dược Thông chỉ cúi đầu chẳng nói chẳng rằng. Lúc đưa Lan Tâm đến cửa vương phủ thì chàng khuyên nàng đừng nên quay lại nữa, sau đó xoay người rời đi, Lan Tâm bởi thế mà càng mến chàng hơn gấp bội.

Mấy ngày sau đó, Phùng Dược Thông theo sư ca đến nghe nghệ nhân khác hát, vì muốn giấu mình nên chàng và các sư huynh đệ ngồi tại một quán hoành thánh gần đó, sau khi nghe xong một đoạn thì chàng chợt trông thấy Lan Tâm và nha hoàn Nguyệt Nương ăn mặc giản dị đang ngồi ở bàn gần đó, đang nhìn chàng mỉm cười. Hôm ấy là mùng một đầu tháng Tám, Lan Tâm nghe lời cha mẹ đến Quảng Hóa tự thắp hương, vừa khéo trông thấy chàng đang vô cùng chăm chú "học lỏm" người khác. Sư ca thấy thế, sợ Lan Tâm phá rối họ bèn bảo Phùng Dược Thông qua trò chuyện với Lan Tâm. Bởi kế hoạch "học lỏm" bị phá hỏng nên chàng rất tức giận, đâm ra lạnh nhạt với Lan Tâm, nhưng Lan Tâm không những không buồn mà còn chủ động dạy chàng hát Xóa Khúc - một kiểu nhạc chỉ có quý tộc Mãn Châu mới được hát. Một thời gian sau đó, chàng sa vào lưới tình với người con gái xinh đẹp và đáng yêu này, Lan Tâm tặng chiếc vòng trân châu trên tay mình cho Phùng Dược Thông xem như tín vật.

Tiếc rằng ngày vui chẳng tày gang, vào ngày trung thu năm ấy, Phùng Dược Thông không những không đợi được Lan Tâm mà còn bị cảnh sát bắt. Hóa ra, do bởi đại sư ca của chàng ganh tỵ mối tình giữa chàng và Lan Tâm nên đã nói cho Lễ vương gia hay. Lễ vương gia giận tím tái mặt mày bèn lệnh giam lỏng Lan Tâm, vu cáo cho Phùng Dược Thông trộm bảo vật là "vòng tay Bát Bảo", sau đó sai người cho chàng uống thuốc khiến chàng bị mất giọng. Sau khi Phùng Dược Thông ra tù thì được một nghệ nhân đàn nhị thu nhận và truyền nghề cho. Kể từ đó cứ vào mỗi độ trăng tròn, Phùng Dược Thông lại đến bên ngoài Lễ vương phủ diễn tấu khúc Phong Tán mà Lan Tâm yêu thích nhất, còn Lan Tâm bị giam lỏng trong vương phủ cũng sẽ cùng hát theo. Dần dà điều này lại chọc giận Lễ vương gia, ngài bèn sai người sát hạt Phùng Dược Thông, Lan Tâm biết được chuyện đó bèn tự tử. Vương gia chôn thi hài Lan Tâm dưới gốc cây hòe trong hoa viên với ý dù có chết nàng cũng không được ra khỏi vương phủ, còn vong linh của Phùng Dược Thông thì hóa thành gió lốc quẩn quanh Lễ vương phủ.

Ngoài bốn căn nhà kể trên thì còn có rất nhiều ngôi nhà ma khác. Đằng sau mỗi một ngôi nhà lại có một câu chuyện khác nhau, một nỗi thương tâm khác nhau. Thoạt trông có chút đáng sợ nhưng đó đều là chứng nhân lịch sử với sự uy nghiêm và thâm trầm được tôi rèn qua tháng năm bão táp. Nếu các bạn có dịp đến đó chơi thì xin đừng sợ hãi, mà hãy nhìn những ngôi nhà ấy bằng đôi mắt kính trọng của hậu nhân dành cho tiền nhân. Bởi đó là một trong những thứ hiếm hoi của quá khứ mà bạn có thể chạm vào. Chúc bạn có một chuyến đi vui vẻ và bổ ích khi có dịp đặt chân đến phố phường Bắc Kinh.
[Đọc Truyện Này...]


Gò Mả Nhô Cao



Lại một đêm ròng rã, tiếng gió trời cứ thổi ào ạt vào chiếc nón lá được vắt ngược ra sau của Hòa.

Vội lau nhanh những vết ố trên cái đèn dầu cũ rích, Hòa thắp nó lên và tiếp tục soi trên cánh đồng giữa đêm khuya tối mịt. Hầu như đêm nào Hòa cũng phải lặn lội từ nhà, đi miệt ra tận ngoài thửa ruộng nhà ông Phú Tưởng để canh ruộng cho ông ta, vậy mà mỗi tháng cậu chỉ nhận được mỗi mười đồng bạc từ chính một ông địa chủ giàu nứt vách đổ tường đó.

Tuy ít ỏi là như thế, nhưng mấy khi Hòa lại thở dài than vãn lấy một lời, cũng phải cực khổ lắm cậu mới xin được một chân giữ ruộng cho nhà ông Phú Tưởng, cho nên cậu cũng rất chịu thương chịu khó, bởi cậu biết rằng nếu từ bỏ công việc này, thì cũng có khá nhiều người trông chờ để thay thế cậu.

Đêm hôm khuya khoắt, đêm nay là đêm thứ bảy, vậy cũng có nghĩa là Hòa đã canh ruộng cho nhà ông địa chủ Tưởng được đúng một tuần lễ rồi, cậu vừa đi rảo bước trên con lương vừa đưa mắt nhìn thẳng ra ngoài cánh đồng, những cơn gió đêm vẫn thổi một cách mãnh liệt, nó như thể đang thét gào trong đêm không ngớt, bất chợt từ xa xa, Hòa vô tình nhìn thấy một bóng người thấp con đội nón rơm đang dang hai tay ra vẫy gọi.

- Hòaaa… Hòaaa ơi…!

Tiếng gọi trầm bổng thất thường, Hòa đưa ngọn đèn lên cao gần mắt rồi nhìn qua hướng bóng người đó, nhưng vẫn không thấy rõ là ai, vừa lúc đó thì trời bất thình lình sấm chớp ì đùng. Tiếng sét làm cậu giật mình, vội cầm trên tay chiếc đèn dầu vừa chạy, vừa nương lại để cho ngọn lửa không bị tắt, nhưng khi Hòa đến được gần chỗ bóng người đó đứng khi nãy thì lại chẳng còn thấy ai nữa, tiếng người gọi tên mình chập vài phút trước cũng biến mất.

Cậu Hòa thầm nghĩ:

"Kỳ lạ thật, nãy vừa mới thấy rõ ràng đây mà, giờ đâu mất rồi nhỉ?, hay đó là ăn trộm?. Mà… cũng không đúng, nếu đó là ăn trộm thì nó dại gì mà gọi tên mình chứ!"

Tiếp tục lần mò xung quanh, Hòa vô tình giẫm phải một thứ gì đó, ánh đèn leo lét của chiếc đèn dầu cứ chập chờn lúc tỏ lúc yếu, nó khiến cho cậu phải đưa ngọn đèn xuống gần sát đất thì mới thấy rõ được thứ dưới chân mình là gì.

Vừa trông thấy một cái chân người động đậy toàn là máu giữa cánh đồng lúa hoang vu, Hòa kinh hãi hét lên giữa bầu trời, kịp trấn an lại bản thân, cậu cố lấy hết can đảm đưa ngọn đèn lên tới khuôn mặt của cái xác, lúc này mới thấy đó chỉ là một con hình nộm. Hòa đưa tay dụi mắt vài cái rồi nhìn lại tổng thể cả con hình nộm đó thêm một lần nữa, lạ lùng thay cái chân ban nãy mà Hòa nhìn thấy không phải là chân người, mà đó chỉ là một đống rơm nhô cao được gắn bên dưới con hình nhân bằng rơm đó.

"Một con bù nhìn, đội nón lá… sao hổm rày mình lại không nhìn thấy nó vậy cà?"

Vẫn còn đang mông lung thì bất chợt có một cánh tay vỗ lên vai Hòa một cái, rồi cất lên một giọng nói thều thào ốm yếu như người sắp chết:

- Đừng có động vàooo…

Hòa điếng người la lên:

- Ma… ma… ma…

Hòa định bật dậy chạy khỏi nơi đó thì lúc này mới có một ông bác già kéo tay lại, rồi nói với theo:

- Cậu làm ngã thằng Cương nhà tôi rồi, cậu còn định chạy sao?

Vội đứng sững lại, Hòa mới nhận ra đó không phải là ma mà chỉ là một ông bác già nua, ông ta mặc một bộ áo bà ba đã rách tươm, cả người cũng bốc lên một mùi hôi tanh đến khó chịu, nhưng không hiểu sao từ trong tâm chàng trai trẻ nghe câu nói mà ông bác già vừa cất lên thì không tài nào chạy nổi nữa, ông ta vác con bù nhìn lên vai rồi dẫn cậu băng xuyên qua cánh đồng, đến chừng mấy chục mét thì tới được một túp lều nhỏ. Ấy vậy mà tự lâu nay Hòa đâu hề biết rằng giữa cánh đồng bạt ngàn ấy lại có một cái túp lều, điều đó làm cho cậu thấy khó chịu, vì cậu nghĩ rằng bấy lâu nay ông Phú Tưởng đã giấu không cho mình biết trong ruộng có lều để ngủ tạm, báo hại cậu cả tuần nay toàn phải ngủ muỗi trên võng ở những lùm cây ven ruộng.

Bẽn lẽn dựng con bù nhìn trước cửa nhà, ông bác già mở cửa đi trước. Khi bước vào trong chiếc lều nhỏ, Hòa vội thắp lại chiếc đèn dầu đã tắt ngắm lúc cậu vừa nhìn thấy con bù nhìn, mắt cậu lúc đó cũng kịp vội lia qua lia lại để quan sát. Cái cảm giác lành lạnh ở sống lưng cứ tự dưng chạy dọc cả người ngay từ lúc bước chân vào lều, làm cho Hòa thấy bất an vô cùng, bên trong mạng nhện phủ đầy, trong lều chỉ có mỗi một cái giường bằng trẻ và một bộ bàn ghế đã cũ, trên bàn có một ấm trà, nhưng khi sờ thử thì nước trong chiếc bình trà lại lạnh như băng, Hòa đã định rót uống nhưng rồi lại để yên nó ở vị trí cũ.

Lúc bấy giờ ông bác già mới hỏi:
- Cậu là ai mà vô đây?

Hòa lễ phép đáp:

- Dạ thưa bác! Con được ông Phú Tưởng thuê để vào đây canh ruộng cho ổng ạ.

- Vậy à!

Hòa tiếp tục nói:

- Mà bác là ai? Sao lại ở trong ruộng này, con đi canh ruộng cho ông Phú Tưởng cũng cả tuần nay mà giờ con mới thấy bác và con bù nhìn này đó.

Ông bác già mỉm cười nhẹ:

- Hừm! Lão ở đây cũng lâu rồi, thằng Cương nó vẫn đứng ở ngoài kia như thường lệ để canh ruộng cho nhà ông Tưởng cũng lâu rồi, vậy mà lão có thấy ổng mướn ai đâu, chả hiểu sao tự dưng giờ lại đi mướn thêm người làm gì cho tốn kém không biết…
Nghe đến đây, Hòa cũng chỉ biết cười trừ, ông bác già thấy vậy cũng cười theo.

Rồi trông ông ta như thấy gì đó rồi vỗ đùi một cái:

- Chậc, ơ kìa… cái thằng này, mày nhìn vào đây làm gì, thằng Hòa nó hiền khô à con, không sao đâu…

Hòa ngạc nhiên:

- Vậy ra có phải là bác gọi con khi nãy ở ngoài đồng không?

Ông bác già lắc đầu:

- Không, thằng Cương nó định đuổi cậu đi đó, sợ cậu miệng nói tầm bậy tầm bạ nên lão mới ra ngoài đồng ôm nó về lều, vừa ra tới đã thấy cậu nên sẵn dẫn cậu vào đây luôn cho vui, chứ cũng mấy khi nhà có khách.

Hòa như vẫn không tin vào những gì mà ông lão vừa nói:

- Ý của bác là con bù nhìn gọi tên con sao?

Ông bác già không đáp lời mà chỉ ngồi cười khề khà, rồi chỉ tay ra ngoài cửa:

- Ờ nó đứng nhìn cậu kìa!

Lúc này Hòa mới quay đầu nhìn theo hướng tay của ông bác già, cậu mới tái xanh mặt khi thấy con hình nộm bằng rơm đã được dựng đứng ở trong túp lều từ bao giờ rồi.

Ngoài trời đêm, tiếng sấm bỗng dưng lóe lên rồi một cơn mưa hối hả đổ ào lên chiếc lều nhỏ, cứ thế cái cảm giác lạnh buốt người tấn công lấy tâm trí của Hòa, cơ thể cậu bỗng mềm nhũn ra, cậu thiếp đi lúc nào không hay.

Đến tận sáng hôm sau…

Mới buổi sớm tinh mơ, con Út Mén người làm trong nhà của địa chủ Tưởng, nó chạy sòng sọc vào tận phòng của đôi vợ chồng ông bà chủ, vừa thở hì hục vừa nói:

- Ông ơi, có… có chuyện rồi ông ơi!

Vợ cả của ông Tưởng đang ngồi đấm lưng cho chồng, mặt sụ lại rồi quát:

- Mới có sáng sớm thôi hà, mà bây làm cái gì như bị ma đuổi vậy Mén?

Con Út Mén cố thở đều lại rồi đáp:

- Dạ… dạ anh Hòa giữ ruộng nhà mình tối qua… tối qua…

Nghe đến tên thằng Hòa, ông Phú Tưởng lúc này mới vội bật dậy, đôi mắt đăm chiêu một lúc lâu, rồi mới cất lời:

- Mày nói cái gì? Thằng Hòa nó làm sao?

- Dạ thưa ông! Anh Hòa tối qua tới giờ không thấy đâu cả. Hình như là cũng bị như mấy ông đợt trước rồi ạ.

Ông Phú Tưởng nghe tin, khuôn mặt ra chiều như rất giận dữ:

- Mẹ nó! Cái lũ này, nó định ám cái đất nhà tao đến bao giờ đây chứ, cả năm nay tính luôn thằng Hòa này nữa thì cũng được gần chục thằng bị nó phá cho sợ chạy mất dép rồi.

Bà vợ cả vội vuốt ve:

- Thôi thôi! Ông nhà cũng bớt nóng dùm tui đi, mọi chuyện cũng tại… tại…

Thấy con Út Mén đứng nhìn không rời mắt, ông Tưởng mới nhắc khéo cho nó đi ra, bà vợ cả lại nói tiếp:

- Thì cũng tại ông thôi chứ ai!
Ông Phú Tưởng quay mặt sang nhìn bà vợ già:

- Sao lại là tui?

Bà vợ cả đáp:

- Ông còn nhớ vụ của thằng Hai và con Tư Lài không?

- Chuyện qua lâu rồi, bà nhắc để làm gì? Tui có liên quan gì tới hai đứa đó đâu!

- Ông còn dám nói vậy sao? Đừng tưởng là ông qua mặt được tui, chính ông cho người giả dạng làm ăn trộm qua giết con Năm Lài, hòng để cướp đi miếng đất của nhà nó chớ gì, mà trời đúng là giúp ông nên mới để thêm thằng Hai Dương nó yêu con Năm Lài rồi tự vẫn chết theo, ông được nước béo cò cướp luôn ruộng đất của thằng Hai. Để bây giờ trong tay ông có cả một cánh đồng bao la, mà ông nhìn lại thử đi, ngần ấy năm qua cái đồng Ba Cỏ này còn ai mà dám thuê canh tác nữa kể từ khi người ta đồn vong hồn con Năm Lài nó về báo oán ngoài đồng kia chứ.

Ông Tưởng lúc này mới vội xua tay:

- Thôi đi bà ơi! Ba cái chuyện tầm phào đó mà tin làm cái gì, chết là hết, ma cỏ gì.

- Ông không sợ nó hiện hồn về báo thù sao?

- Hứ! Tui đố cả dòng họ nhà nó hiện hồn về hết ở nhà tui đó, ba cái đồ quỷ đó, tui không có tin đâu.

Vừa dứt lời, một cơn gió thổi mạnh vào gian phòng, ánh đèn dầu để trên bàn bỗng dưng bị thổi tắt, bà vợ cả lúc bấy giờ tự nhiên nằm vật ra giường, người co ro uốn éo, mắt trợn ngược lên trắng dã.

Ông Tưởng hốt hoảng, la lên thất thanh:

- Trời ơi! Bà nó ơi, bà bị sao vậy? Bây đâu rồi, con Mén đâu vô đây coi bà bị sao nè con ơi…

Con Út Mén nghe tiếng gọi của ông chủ cũng liền chạy vào bên trong phòng vén màn lên xem thử, nhưng vừa đưa tay chạm vào người bà chủ thì nó lại ôm lòng ngực, máu tràu ra từ miệng tràn ra lênh láng cả dưới đất, ông Phú Tưởng trợn mắt nhìn cảnh tượng khiếp hãi đó mà mặt cắt không còn giọt máu, ông ta cuống cuồng chạy ra ngoài tọt ra ngoài cửa hô hoán hàng xóm tới ứng cứu, nghe tiếng tri hô, bà Tư Lựu ở kế bên nhà cũng chạy qua ngay. Thấy ông Phú Tưởng ngồi vật vờ, khuôn mặt hớt hãi nên cũng đoán ra được gì đó, bà Tư cẩn thận lấy một cành dâu với một chén rượu để trên bàn thờ cửu huyền, theo chân ông Tưởng, bước vào tới cửa phòng hai vợ chồng, bà Tư lấy cành dâu quấy liền ba phát vào vách cửa, xong rồi lại bước vào bên trong, thấy bà vợ ông Tưởng nằm trên giường co giật dữ dội, đến độ sùi cả bọt mép, gân xanh nổi cộm lên hết trên gương mặt, bà Tư lúc bấy giờ mới vừa đọc lẩm bẩm trong miệng cái gì đó rồi húp liền một ngụm rượu trong chén, sau đó lại phun thẳng vào người bà vợ ông Tưởng và cả con Út Mén, phải mất một lúc lâu sau thì mọi thứ mới dần trở lại như bình thường.

Ông Tưởng lúc này mới thở phào nhẹ nhõm, chạy đến chăm sóc cho bà vợ, còn bà Tư thì bế con Út Mén ra trước bàn thờ gia tiên nhà ông Tưởng khấn vái cái gì đó rồi mới trở vào gặp ông.

Ông Phú Tưởng mặt buồn hiu, nhìn bà vợ mà miệng cứ khấn đủ thứ:

- Cầu Trời cầu Phật cho bà nhà đừng có chuyện gì, chứ không chắc tui không sống nổi quá.
Bà Tư cười nhếch môi:

- Ông cầu làm gì cho mệt, Phật ở trên cao quá không độ được ông đâu!

Bà Tư ngồi trên bộ ghế gỗ rót miếng trà nóng, tay vừa xoa xoa cốc trà vừa nói:

- Cũng may là tui qua kịp, chứ nếu không thì bà vợ ông chắc đi theo nó luôn rồi!

Ông Tưởng ngạc nhiên đáp:

- Ý của bà là sao, bà Tư?

- Hừm! Tui tưởng là ông phải biết rồi chứ. Chuyện của người làm thì không chỉ có một mình người đó biết, mà còn có trời biết, đất biết, mà… ma quỷ nó cũng biết, ông hiểu hông?

Nghe bà Tư nói thế, tự dưng trong lòng ông Phú Tưởng cũng đoán ra được hàm ý của bà Tư nên cũng không dám nói thêm câu gì. Bà Tư lại nói tiếp:

- Ông lo ráng mà sám hối đi, chứ nghiệp ông nhiều lắm, vầng trán thâm đen, đất nhà ông cũng nặng mùi oán khí, tui nói cho nghe nè! Nếu ông không chết thì báo ứng cũng đổ lên đầu vợ con ông chịu thay hết đấy. Sẵn bà nói cho ông biết, ban nãy tui thấy ngoài cổng nhà ông người âm đứng đông nghẹt, trai gái già trẻ có đủ, không biết là ông có vạ miệng gì không mà tui thấy người ta giận dữ lắm, may nhà có thờ nên không ai vào được.

Nghe đến đây, ông Tưởng tái xanh mặt, tay chân bủng rủng, dù rằng ông ta chưa bao giờ tin trên đời này có ma, nhưng những chuyện khiếp hãi vừa rồi dường như đã nhấn chìm mọi suy tưởng sai lầm đó của ông.

Bà Tư uống tiếp một ngụm trà rồi lại nói:

- Hồi nãy con Út Mén bị tới hai vong hành lận, một trai một gái, bởi vậy mà nó mới bị hộc máu nhiều vậy đó, cũng nhờ phúc đức mà mấy cái vong dữ đó nó không hại chết.

- Cái gì? Lẽ nào là thằng Hai với con Lài?...

Có hơi bất ngờ khi nghe ông Tưởng nói thế, nên bà Tư cũng bắt đầu đưa mắt nhìn ông ta một cách nghiêm túc, xong lại quay đầu nhìn ra cửa phòng rồi lắc đầu:

- Không! Là vong con Lài và một thằng nhóc không rõ là ai cả, nhưng chắc cũng tầm mười chín hai mươi. Bộ đồ nó bận là một bộ áo bà ba nâu đã rách vai, miếng vá to bằng cả bàn tay ở bên vai phải. Hình như là bị ai đó giết chết ấy.

- Làm sao mà bà biết được rõ như thế? Bà nhìn thấy ma được sao?

Bà Tư cười nhẹ rồi gật đầu đáp:

- Cha sanh mẹ đẻ ra là đã thấy rồi, may mắn hồi nhỏ được thầy nuôi nên cũng có chỉ dạy chút ít để phòng thân. Nhưng tính ra thì tui không có được gọi là thầy bà gì đâu, vẫn là người thường thôi.
Ông Tư mặt bừng tỉnh lên:

- Vậy à! Vậy bà coi coi giùm tui coi cái ruộng nhà tui, cả năm nay bị làm sao mà mấy đứa làm thuê cho tui nó canh ruộng, mà cứ chưa đầy một tuần là mất tích, không để lại một dấu vết gì.

- Có chuyện đó sao? Sáng mai dẫn tui ra ruộng nhà ông coi sao đã, chứ giờ nói khơi khơi cũng không tường tận.

- Ừ! Bà giúp được tui thì tui sẽ trả cho bà hậu hĩnh.

Sáng hôm sau…

Nhưng đã hẹn, ông Phú Tưởng dẫn bà Tư Lựu ra ngoài đồng kiểm tra, nhìn một lượt một bà Tư mới lắc đầu:

- Ở đây bình thường mà, không có gì cả.

Ông Tưởng ngạc nhiên:

- Thật không bà Tư? Thế nguyên nhân gì mà ruộng nhà tui bị như vậy chứ?

Tiếp tục đi sâu vào trong thửa ruộng, bà Tư bỗng thấy một con bù nhìn đứng dang tay giữa cánh đồng, thấy có gì đó kỳ lạ nên cũng kéo tay ông Phú Tưởng tẻ ruộng đi thẳng đến chỗ con bù nhìn đó. Khi đến được chỗ con bù nhìn đó rồi thì ông Tưởng và cả bà Tư mới phát hiện ra rằng con hình nhân bằng rơm ấy mặc một bộ đồ giống y như cái vong nam mà bà Tư hôm qua có nhắc tới. Lúc này ông Tưởng mới không còn nghi ngờ gì nữa, vì đã sớm biết được cái vong nhập vào hành xác bà vợ ông và con Út Mén là vong của thằng Cương. Bầu trời của ngày hôm đó bỗng âm u lạ lùng, cơn gió thổi thoang thoảng làm rơi chiếc nón rách trên đầu con hình nhân bằng rơm ấy, nó để lộ ra cả một mớ tóc người trên đó, trông như đó là tóc thật của nó vậy. Ông Tưởng lúc đó cũng có đến sờ thử, nhưng không thể nào tin được khi thấy mái tóc đó lại chính là tóc người thật, những sợi tóc như dính chặt vào cái đầu bằng vải độn rơm của con bù nhìn, có đôi khi đôi mắt vô hồn của nó như đã có khoảng thời gian nào đó liếc nhìn ông Tưởng một cách cay đắng lạ thường.

Tiếp tục nhìn xuống bên dưới chỗ con bù nhìn đang dựng đứng, ông Phú Tưởng lại tiếp tục trong thấy chiếc áo của thằng Hòa để bên cạnh, nhưng điều kì quái hơn là chiếc áo và cả con bù nhìn dường như đang được đặt trên một cái ụ đất nhô cao giữa lòng ruộng, nó trông rất giống với một cái gò mả đã chôn người chết bên dưới.

Bà Tư đứng gần đó được phen chứng kiến hết một lượt, mà ngay cả bà cũng không khỏi kinh ngạc khi thấy được cảnh tượng đó. Lập tức, ông Phú Tưởng mới cho người đem đào cái ụ đất đó lên, sau đó lại tiếp tục khiếp đãm trước những gì mà từ trước tới nay ông chưa bao giờ gặp, xác của thằng Hòa nằm ngay trong một chiếc quan tài cũ, bên dưới chính xác là có ba cái xác, bao gồm của Hòa và hai người nữa.

Nhưng có lẽ chỉ có ông Phú Tưởng mới biết đó là ai. Riêng bà Tư thì chỉ nhận ra một là của Hòa và một là của thằng Cương, còn cái xác thứ ba thì bà Tư hoàn toàn không thể nào biết được, thế nhưng dù cố kết nối với vong hồn của cái xác đó đến nhường nào thì bà Tư lại càng mệt bấy nhiêu, mà kết quả cũng không được gì.

Ông Tưởng thầm nghĩ:

"Tại sao lại xảy ra cái chuyện kỳ lạ này được? Rõ ràng mình đã giấu nó ở bên ruộng nhà con Lài rồi cơ mà, sao giờ nó lại được chôn ở đây chứ? Thật phiền phức!"

Giữa cánh đồng, bà Tư lại tiếp tục lấy ra cây roi làm bằng mây, nói đoạn bà Tư vừa khấn vái gì đó rồi vội thắp nhang và cắm xuống đất, tiếp tục rải rượu xuống đất, trước nhang đèn nghi ngút, bà Tư lại nhờ ông Tưởng đem ra một chén máu gà rải quanh cái hố, xong rồi mới ra hiệu cho người làm ở nhà ông Tưởng đem chôn hai cái xác ngoại trừ xác của thằng Hòa, đem chôn trở lại như cũ rồi mới để cái roi mây lên trên.

Ngày hôm đó, cũng có một vài người hàng xóm đến coi, nhưng dù cho họ biết được hung thủ giết người thì cũng chẳng ai dám kêu oan vì sợ lại bị ông Tưởng cho người bịt đầu mối.

Quay trở lại hiện trường, chưa đầy nửa tiếng sau, khi nhang vừa tàn hết thì bất thình lình chân nhang bỗng dưng trồi hết lên khỏi mặt đất trở lại, cành roi mây cũng bị đứt làm đôi. Bà Tư vừa nhìn đã khiếp sợ tột độ, vội khăn gối chạy thoát khỏi nơi đó, mấy người dân hiếu kỳ thấy vậy cũng ùa chạy tán loạn, chỉ còn lại riêng ông Phú Tưởng thì đứng như trời trồng giữa trời không một chút cử động.

Sau ngày hôm đó…

Người ta không còn thấy ông Phú Tưởng đâu nữa, riêng bà vợ cả của ông thì nghe đồn đâu cũng bị điên điên khùng khùng rồi đi biệt tăm biệt tích, nhà cửa bỏ tan hoang, trộm vào cổm sạch không còn để lại gì. Mãi đến sau này, khi cánh đồng ấy được huy hoạch thì người ta mới tìm thấy thêm vài cái xác khác nữa, nhưng không ai biết được danh tính của những cái xác đó là ai cả.
[Đọc Truyện Này...]


Đêm Hành Xác



Chuyến xe đò xuôi ngược từ Bình Dương về bến Vĩnh Long giữa đêm khuya, cuốn theo đó là cái lạnh rét run người khiến cho Du phải vội kéo cửa sổ bên hông xe lại. Cậu ngồi tựa vào ghế, nép người vào một bên chợp mắt, trong khi chiếc xe vẫn lăn bánh không dừng.

Như mọi năm, Du đều đi xe đò về quê ăn tết, giỏ đồ lủ phủ khiến cho cậu phải chật vật lắm mới cho chúng yên vị dưới chân mình, tuy đồ đạc không nhiều nhưng những thứ lặt vặt thì lại nhiều quá đỗi. Nào là chả lụa, bánh tét, bò khô, rồi lại còn có cả hai trái dưa hấu dành để đem cúng trên bàn thờ nữa.

Giữa chừng chú Tư Hải cất tiếng:

- Gần đến bến xăng nhà bà Năm Kiều rồi, thằng Du đâu? Chuẩn bị xách đồ xuống bến nghen con.

Chú Tư Hải là cánh tài xế xe đò lâu năm mà Du biết duy nhất trên chuyến xe, bởi nhờ vào sự quen biết đó mà Du mới có được chỗ ngồi lý tưởng để về quê ăn tết, mà không sợ phải ngồi chen lấn chật chội với người khác.

Nói đoạn có người ngồi cạnh bên vỗ vai Du vài cái rồi nói:

- Nè! Em trai ơi, gần tới bến rồi đó em ơi!

Du giật mình tỉnh dậy, đưa đôi mắt nhìn quanh rồi đáp lẹ:

- Dạ dạ, em cảm ơn chị!

Chuyến xe vẫn chạy trên đường, Du ngồi sắp xếp lại mớ đồ đạc để chuẩn bị xách xuống xe cho gọn, chị hành khách ngồi kế bên thấy đồ đạc nhiều nên cũng tò mò hỏi:

- Bộ em dìa quê ăn tết hả?

- Dạ, đúng rồi đó chị!

Chị hành khách cười nói:

- Hèn gì thấy em mua hai trái dưa bự mà đẹp quá hà!

Du nhìn chị hành khách khen dưa mình lựa mua đẹp nên cũng vui trong lòng.

Được chừng năm phút sau…

Xe dừng lại, chú Tư lại giục Du thêm lần nữa:

- Tới bến rồi Du ơi! Con xuống lẹ đi, chỗ này đậu lâu mấy tay công an chuyên ăn đêm lại phạt đó!

Du đáp vội:

- Dạ dạ con xuống liền đây, chị ơi xách giùm em cái giỏ đồ này xuống với!

Chị hành khách ngồi kế bên nghe xong cũng nhanh tay kéo nhẹ một cái ba lô đồ của Du đem để xuống chân cầu thang xe, sau đó lại yên vị trở lại ghế ngồi. Khi Du vừa bước xuống, chiếc xe cũng vội nổ máy mà chuẩn bị tiếp tục lăn bánh, chú Tư Hải lúc này mới nói với theo:

- Dìa tới nhà nhớ cho chú hỏi thăm ba má với mấy cô cậu ở nhà nghen Du!

- Dạ!

Vậy là cuối cùng cũng về đến quê, đứng ở một ngã ba đường giữa trời tờ mờ sáng, Du xách cồng kềnh đống đồ rẻ vào một con đường nhỏ bên cạnh rồi đi một đoạn dài. Khi đến được gần một cây gừa, lúc này mới lộ ra con kênh nhỏ nằm song song với đoạn đường mà Du đang đứng. Như biết trước được chiếc ghe neo bên gốc gừa, nên Du hí hửng chất đồ xuống ghe rồi tháo dây quấn trên cọc gỗ, cứ thế mà chèo ghe qua bên kia sông.

Lúc bấy giờ chó trong nhà ông Năm Sang cũng sủa lên inh ỏi, hai vợ chồng ông bà Năm nghe vậy cũng vội đi ra cửa ngó theo hướng chó sủa. Du chèo qua gần tới bờ bên kia thấy ông bà Năm, cậu vui mừng vẫy tay.

- Ba, má! Con dìa rồi nè.

Bà Năm vừa nghe hết câu, liền vội chạy nhanh ra bờ để nhìn cho rõ. Khi thấy được Du, bà cũng vui mừng kéo tay ông Năm:

- Ông ơi! Thằng Du nó ở trên xì phố, nó dìa kìa ông ơi.

Ông Năm Sang nghe vậy cũng cười tươi như hoa, nhưng không nói gì. Sau khi Du chèo ghe qua đến bờ, hai ông bà Năm hớn hở dìu Du lên, rồi xách phụ cho Du đồ đạc, bà Năm nói:

- Bây dìa là tía má bây mừng lắm rồi, lại còn mua đồ chi lủ phủ vậy con?

Du cười xuề xòa:

- Dạ, có gì đâu má, làm cả năm mới dìa một lần thì mua cho đáng, với lại mua là mua cho nhà mình xài chứ ai xa lạ đâu! À… phải rồi, đám nhỏ đâu rồi ba má? Con Lam, thằng Hậu với con Út Thảo đâu?

Nghe nhắc đến con Hai Lam, ông Nam lại nghèn nghẹn trong lòng:

- Con Hai nó… nó chết được hơn nửa năm nay rồi!

- Trời đất! Sao không ai nói cho con nghe hết vậy?

Ông Năm định nói thì bà Năm vội che miệng ông Năm lại:

- Tía bây định gọi lên cho bây hay đó, mà má hông có cho, vì sợ bây buồn rồi cất công từ xa dìa đây nữa!

Du ngồi thẳng xuống bộ ghế giữa phòng khách, mặt buồn hiu. Cậu hỏi tiếp:

- Rồi… sao mà con Hai nó chết vậy má?

Bà Năm cũng ngồi xuống rót miếng trà uống cho thấm giọng, xong lại thở dài:

- Hôm đó ba đứa tụi nó chơi với nhau ở sau hè nhà mình, bây còn nhớ cái giếng sau hè nhà mình không, nó… nó giỡn ra làm sao ấy, rồi con Hai nó bị thằng Hậu lỡ tay xô xuống giếng chết. Ba bây la tụi nhỏ suốt cả tuần lễ, rồi cái giếng cũng được đậy lại từ đó luôn, không dùng nữa.

- Trời! Năm nào cũng con nhắc ba má hết, kêu lấp cái giếng lại đi, xài nước máy đi cho sạch, với lại còn tiện lợi nữa mà không nghe, giờ xảy ra chuyện rồi.

Ông Năm nãy giờ không nói gì, vội lên tiếng:

- Tao nói với má bây hoài mà bã có chịu nghe đâu, cứ bảo là dùng nước giếng đi cho đỡ tốn tiền, vậy đó coi được không!

Nghe đến đây, Du mới hiểu ra mọi chuyện. Hai Lam và Út Thảo là con của chị ruột Du, cũng vì Du năm nay mới chỉ ngoài 25 tuổi thôi, chưa vợ con gì cả nên cậu cưng hai đứa con gái của chị hai mình rất nhiều. Còn thằng Hậu là con của bà chị họ tên là Tâm, chị Tâm cũng đi làm xa quê nên mới để con lại cho nhà ông bà Năm Sang chăm sóc giùm. Ông bà thương là thương cho thằng nhỏ có hoàn cảnh cơ cực, ba mẹ thì ly hôn lúc thằng Hậu mới sinh được hai tháng, nó theo ở với mẹ, mà phía ông bà già nhà Tâm cũng chết sớm, nên ông bà Năm Sang cũng ráng mà nhận nuôi, may là mỗi tháng Tâm đều gửi tiền về phụ ông bà Năm nuôi thằng nhỏ. Riêng về chuyện con bé Hai Lam chết, cái độ tuổi chừng bảy tám tuổi thì biết gì đâu, nên Du cũng không trách thằng bé Hậu nó nghịch dại.

Tối hôm đó, là đêm đầu tiên ngủ lại ngôi nhà của ông bà Năm, Du vừa tấn mùng vừa nói:

- Nay cậu Ba dìa, được ngủ chung với cậu ba là vui luôn à nghen!

Thằng Hậu ngồi bên cạnh cũng cười tít mắt:

- Dạ!

Bình thường hai chị em Lam và Thảo hay ngủ chung với bà Năm, còn thằng Hậu thì ngủ chung với ông Năm, nhưng đêm nay Du về, mà từ đúng lúc con Hai Lam chết, thì chỉ còn lại Út Thảo ngủ với bà Năm, ông Năm buộc phải ngủ một mình vì tính ông xưa nay chỉ thích ngủ với vợ mà thôi, còn lại Du và thằng bé Hậu thì ra bộ dạt giường ngoài phòng khách để ngủ.

Du xoa đầu nói tiếp:

- Tấn mùng xong rồi thì nằm xuống ngủ, ông ngủ cho ngoan nghe chưa, nghịch là tui đánh đòn ông đó nghe ông tướng!

Vậy là hai cậu cháu đặt lưng xuống ngủ một mạch đến tận nửa đêm thì…

Vẫn còn đang lơ mơ trong giấc ngủ, Du bỗng dưng nghe thấy tiếng gõ cửa ở phía sau hè vọng lên, tiếng gõ cửa cứ gõ đúng ba hồi rồi lại chợt dứt, cứ thế cách vài giây tiếng gõ ấy lại phát ra ba hồi. Du lăn qua lăn lại một lúc rồi cũng bừng tỉnh dậy vì tiếng gõ cửa, ngó sang thằng Hậu thì vẫn thấy nó ngáy ngủ phì phò như chết.

Cậu bắt đầu ra khỏi mùng, bước ra hé mở cánh cửa sau nhà ra, rồi đưa mắt nhìn quanh.

Du bực bội:

- Giờ này khuya lắc khuya lơ mà ai gõ cửa hoài vậy không biết? Ai dậy?

Màn đêm tĩnh lặng, chỉ có tiếng ếch nhái kêu ì đùng mà chẳng có bóng dáng ai, Du vội khép cửa lại rồi quay mặt vào trong đi ngủ tiếp.

“Cộc Cộc Cộc”

Vừa quay lưng đi, tiếng gõ cửa lại bất thình lình vang lên làm Du giật mình đứng khựng lại, cậu ngạc nhiên khi nghe lại cái thứ âm thanh đó. Cậu từ từ quay người lại, tay run run mở cánh cửa, tiếp tục ngó đôi mắt nhìn ra ngoài, nhưng ngoài cây cỏ um tùm thì không gian tối như mực, chẳng thấy gì. Trong lòng thấy hơi lo, và bắt đầu nhận ra được thứ gì đó đang đùa giỡn với mình, lúc bấy giờ Du mới vào trong bếp lụt ra con dao phay, rồi vắt nó vào vách cửa. Tiếng gõ cửa lúc này mới chịu dừng hẳn.

Quay trở vào trong bộ dạt, Du ngủ được một lúc thì cậu bắt đầu nằm mơ, tâm trí của cậu dù vẫn tỉnh táo nhưng cậu vẫn thấy rõ có một đứa bé gái chừng mười tuổi đứng đưa sát mặt vào giường, chỗ thằng bé Hậu đang ngủ. Lạ thay là dù nhìn cách mấy thì Du cũng vẫn không thể nhìn được rõ khuôn mặt của cô bé đó, người ngợm nó ướt sũng, cánh tay nhỏ xíu bất ngờ chụp lấy tay cậu.

- Ma… ma…!

Du hét lên giữa đêm, mắt trợn trừng lên nhìn qua nhìn lại khắp giường. Thấy thằng Hậu ngồi kế bên kéo tay, Du mới thở phào nhẹ nhõm.

Du quẹt mồ hôi trên trán rồi hỏi:

- Gì mà giờ này chưa ngủ nữa?

Thằng bé Hậu mặt nhăn nhó:

- Con mắc tiểu quá, cậu Ba dẫn con ra sau hè đi tiểu với!

Nghe đến đây, Du mới nhận ra thằng bé ngồi trên giường vừa kéo tay cậu, vừa nắm chặt đũng quần.

- Ờ, vậy... giở mùng đi ra trước đi rồi cậu theo!

- Thôi… cậu ba đi một lượt với con đi, con sợ ma lắm!

Vừa nói thằng Hậu vừa mếu máo năn nỉ Du, thấy vậy nên Du cũng mò ra khỏi giường, dắt thằng Hậu ra sau hè đi tiểu. Nó chạy tít ra sau bụi cỏ chỗ đứng tiểu, Du đứng gần đó cũng vô tình trông mắt ra ngoài chỗ cái giếng. Ánh trăng len lỏi chiếu xuống cái giếng, bất giác Du thoáng thấy bóng của một người đứng trên miệng giếng quay lưng về phía mình. Nó đứng trơ trơ xõa tóc dài ngang vai, rồi từ từ trút người xuống giếng. Lúc này Du mới hỏi thằng bé Hậu.

- Nè Hậu! Cậu nghe nói cái giếng bị lấp rồi phải không con?

- Dạ chưa cậu! Ông Năm mới đậy miệng giếng lại thôi chứ chưa có tiền nhờ người ta lấp lại.

Vừa dứt lời, Du cũng rùng mình mấy cái, rồi cũng dắt thằng Hậu chạy tọt vào trong nhà. Vừa đi cậu vừa cố gắng không nghĩ tới cái bóng người nhảy xuống giếng khi nãy nữa, nhưng cái hình ảnh vừa rồi cứ như in sâu vào trong trí nhớ của Du, mà không cách nào quên được.

Khi bước đến được ngưỡng cửa, thằng Hậu bỗng nhiên ngả người ra sau, nó la lên thất thanh.

- Chị Hai… cậu Ba ơi cứu con! Chị hai đến bắt con cậu Ba ơi!

Nó khóc thét lên, nằm vật vã trên thềm nhà, Du vội chạy lại đỡ nó dậy rồi trấn an.

- Thôi nín đi, có cậu Ba đây rồi, ma cỏ gì đâu mà sợ!

Thằng vừa khóc vừa nói:

- Chị Hai Lam, chị ấy vừa mới từ trong nhà bước ra, chị… chị ấy nhìn con ghê lắm, người ướt mem à!

Mặt thằng Hậu tái xanh, nó khóc đến sưng cả mắt, Du phải bồng trên tay dỗ nó mới chịu nín. Lúc này nghe tiếng nồi niêu vỗ ì đùng sau bếp, bà Năm mới thức dậy, chạy tọt ra sau nhà, thấy Du ẵm thằng Hậu dỗ cho nó hết khóc nên mới hỏi:

- Vụ gì đó bây?

Du đứng ôm thằng Hậu trong lòng, đáp lời:

- Dạ, thằng Hậu nó mắc tiểu, con mới dẫn nó ra sau hè, rồi lúc vô trong nhà không biết sao nó thấy con Hai rồi nó khóc thét lên!

Bà Năm nhìn quanh rồi nói:

- Thôi vô trong lẹ đi! Để má coi.

- Dạ!

Bà Năm dẫn hai cậu cháu vào nhà, khóa chặt cửa sau lại, rồi bật đèn lên, lúc này Du mới hoảng hồn khi thấy nhà cửa bề bộn, nước thì tràn lênh láng từ cửa nhà sau ra đến phòng khách.

- Này là sao vậy má?

Bà Năm ủ rủ:

- Từ khi con Hai Lam nó chết tới giờ, đêm nào nó cũng về phá hết, riết rồi cũng mặc kệ luôn.

- Trời phật! Vậy sao rồi sao mà ngủ?

Bà Năm lại trả lời:

- Má cũng hông biết sao giờ nữa, sợ là sợ con Hai nó dìa nó phá thằng Hậu thôi!

Vừa nói đến đây, thằng Hậu đang được Du bồng trên tay tự nhiên nhảy dựng lên, nó la ó om xòm, đôi mắt trợn ngược lên trắng dã, Du thả nó xuống đất rồi nó mới được dịp quằn quại. Thằng Hậu uốn éo qua lại rồi nó lên cơn co giật dữ dội, bà Năm thấy vậy nên mới vội cuống cuồng chắp tay khấn.

- Hai ơi! Mày chết linh thiêng mày đừng có về phá phách nữa, thằng Hậu nó còn nhỏ dại, mày đừng có hù em nó nữa!

Vừa khấn xong, Du mới điếng người khi thấy thằng Hậu nó hộc máu, nước mắt thằng Hậu giờ mới ứa ra nhòe cả mặt mũi, miệng nó toàn là máu, Du cố đưa tay hứng lấy nhưng máu vẫn cứ trào ra không tài nào dừng lại được.

Ông Năm lúc này từ trong buồng bước ra thấy cảnh tượng hãi hùng, liền chạy ra ẵm thằng Hậu đặt trước bàn thờ, khấn lẩm bẩm vài câu rồi cắm nhang vào lư hương, lúc đó thằng Hậu mới dứt tiếng khóc. Nó nằm bất động trước bàn thờ con bé Hai Lam, trước sự chứng kiến của Du và vợ chồng ông bà Năm.

Ông Năm Sang vừa thở trong hồi họp vừa cất lời:

- May là tao ra kịp! Chứ không là nó dắt thằng Hậu đi luôn, má bây vậy mà không gọi tao dậy nữa… thằng Du có sao không con?

- Dạ không!

Ông Năm nói tiếp:

- Ban đầu tao không nghĩ là con Hai nó hành thằng Hậu nặng vậy đâu, thiệt tình bởi nó yểu mạng quá mà mới phá phách vậy đó! Chắc mai qua hỏi ông Thế coi sao mới được, chứ vầy hoài chắc thằng Hậu nó chịu không nỗi đâu.

Bà Năm gật đầu rồi cũng nước mắt ngắn nước mắt dài, ông Năm xoa xoa lưng bà vợ rồi nói tiếp:

- Thôi, con lấy khăn lau người cho cháu nó đi rồi có gì sáng mai ba bây tính!

Sáng ngày hôm sau…

Du lấy chiếc xe máy ở nhà chở ông Năm và thằng Hậu lên xóm trên, đứng trước một ngôi nhà cổ kính, ông Năm lớn tiếng gọi vọng vào trong:

- Anh Thế ơi có nhà không?

- Có!

Từ trong nhà, một người đàn ông trung niên cũng chạp tuổi ông Năm bước ra mở cửa, vừa thấy ông Năm là ông ta hớn hở:

- Chèn ơi, anh Năm nay đi đâu mà qua đâu vậy?

Ông Năm vội đáp lời:

- Chuyện là tui con thằng cháu nó bị vong hành xác, nên tui đưa nó qua đây cho chú coi giúp giùm tui!

- Vậy hả, là cái cậu cao to này hả?

Ông Thế quay sang nhìn Du một lượt từ trên xuống dưới, rồi nói tiếp:

- Tui thấy cậu này có bị gì đâu anh!

- Trời ơi, hỗng phải người này, là thằng nhỏ kia kìa! Thằng lớn là con tui, nó tên Du.

Ông Thế ngạc nhiên:

- Vậy hả! Thằng Du đây hả, lâu quá không có gặp mà giờ thấy nó lớn dữ à nghen.

Lúc này ông Năm mới xua tay:

- Thôi thôi, mau giúp thằng cháu tui lẹ đi, tui sợ nó qua hông nổi ông ơi!

Nghe đến đây, ông Thế mới dẫn cả ba người vào trong nhà, ông ta dẫn vào tận trọng buồng riêng rồi ra hiệu cho Du bế thằng bé Hậu đặt xuống trước bàn thờ tổ nhà ông Thế.

Ngồi giữa phòng, trước mặt ông Thế là thằng bé Hậu ngồi xếp bằng nghiêm chỉnh, lúc bấy giờ ông ta lên tiếng:

- Tên nó là gì? Ngày sanh bát tự ghi rõ ra giấy!

Nói rồi ông Thế đưa cho ông Năm một mảnh giấy nhỏ và một cây viết chì, ngay sau đó ông Năm cũng nhanh chóng viết hết ra giấy rồi đưa cho ông Thế.

Nhìn qua mảnh giấy một hồi lâu, ông Thế đưa tay lên bấm độn qua lại. Ông ta nói:

- Trần Trung Hậu, ngày sanh chính khí thọ mạng vững, không sao đâu. Nó bị vong ở nhà hành à?

Du ngạc nhiên đáp:

- Dạ đúng rồi! Sao chú biết vậy?

Ông Năm nhìn qua Du ra hiệu kêu cậu nên kiệm lời, ông Thế lúc này mặt nghiêm túc nói:

- Vong này chết oan chết ức, lại còn rất trẻ nữa, giờ thằng bé này vẫn còn sống là phúc lớn lắm, anh đừng có lo!

Ông Năm Sang mừng trong lòng, nói theo:

- Thiệt hông ông! Đêm qua tui tưởng nó chết rồi nữa đó, nó bị hộc máu, hành như muốn chết đi sống lại mấy lần rồi.

- Thôi bây giờ vầy đi! Anh để nó ở lại chỗ tui vài ngày để tui trị dứt cái vong kia cho anh rồi, sau đó tui gửi anh lá bùa để trị nó, nghe theo lời tui mà làm, ổn thỏa rồi tui sẽ qua nhà anh tui thu nó đem vô chùa sau.

Ông Thế lúc này mới ra hiệu cho Du và ông Năm Sang xê ra xa một chút, để ông ta hành pháp. Ông Thế lúc này quỳ gối, mặt quay vào bàn thờ đốt vội ba cây nhang rồi cắm vào lư hương, sau đó lại lấy một lá bùa bên hông bàn thờ, niệm lẩm bẩm trong miệng rồi hớp một ly rượu trên bàn phun vào người thằng Hậu.

Thằng bé hơi run run nhưng ông Thế liền chỉnh cho nó ngồi ngay lại, kéo tay nó ra rồi dùng kim chích vào đầu ngón tay đến bật máu, ông ta chấm vội vào lá bùa khi nãy rồi tiếp tục khấn. Chừng vài giây sau, ông ta đốt lá bùa rồi huơ huơ trên đầu thằng Hậu, lúc này nó mới cảm thấy khá hơn.

- Xong rồi đó! Chướng khí tan rồi, giờ thì cầm lá bùa này đem dìa nhà dán vô cái giếng, đúng bảy ngày sau thì tháo ra rồi lấp cái giếng đó lại liền, nhớ là tháo bùa ra rồi đốt bỏ vào miệng giếng, xong rồi mới lấp nó lại nghe chưa. Nếu anh Năm mà làm sai bước nào thì hơi mệt nhẹ đấy!

Nghe ông Thế nói vậy nên ông Năm cũng đổ mồ hôi hột, xong ông Thế nhìn rồi lại phì cười.

- Thôi không có gì đâu anh! Mệt là mệt tui chứ mệt anh đâu mà sợ.

Sau lần đó trở đi, thằng Hậu sau này lớn lên vẫn không dám nghịch phá ai nữa, Du sau năm đó cũng bắt đầu về thăm quê nhà nhiều hơn, cho đến khi lấy vợ về ở với ông bà Năm Sang, sinh thêm một đứa cháu gái xinh xắn, lúc đó ám ảnh về chuyện con Hai Lam mới thực sự chấm dứt.
[Đọc Truyện Này...]


 
Lên Đầu Trang Copyright © 2013 by Truyện Hay| Theme by Platinum Theme- Chỉnh Sửa Bởi KT Nguyễn
Lên Trên